Archives for: April 2010

CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ NGÀY 30 THÁNG 4 DƯỚI MẮT TIẾN SĨ CÙ HUY HÀ VŨ

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (phải) và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ - Hình: Cù Huy Hà Vũ

Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4 dưới mắt Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
Source: VOA News

Huy Phương Thứ Năm, 29 tháng 4 2010

VOA: Thưa Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhiều người cho rằng trong chiến tranh Việt Nam người Mỹ không thua trận trên chiến trường mà thua tại sân nhà, do các làn sóng phản chiến trên các đường phố Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Một trong những người này là Tiến sĩ Roger Canfield đã nói như vậy trong một cuốn sách của ông ấy mới đây. Tiến sĩ nghĩ sao về nhận định này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoa Kỳ cho rằng họ can thiệp quân sự ở Việt Nam là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản mà Miền Bắc Việt Nam là “tiền đồn” ở Đông Nam Á trong bối cảnh chiến tranh lạnh. Vì vậy, việc Hoa Kỳ đã thua trong chiến tranh Việt Nam đương nhiên có nghĩa họ đã bại trận trước chủ nghĩa cộng sản, điều mà Nhà trắng và nhiều người khác hẳn không thể và không muốn chấp nhận.

Vậy cần phải có một lý giải khác về thất bại quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam và tôi cho rằng Tiến sĩ Roger Canfield đã đi theo hướng đó bằng cách cho rằng Hoa Kỳ thua trận là do người dân nuớc này phản chiến.

Quan điểm của cá nhân tôi là Hoa Kỳ đã thật sự thua trên chiến trường Việt Nam và các làn sóng phản chiến trên các đường phố New York, Washington… chỉ là hệ quả, phản ánh sự mất kiên nhẫn của người dân Mỹ, đặc biệt trước thiệt hại quá lớn về sinh mạng của lính Mỹ.

Thực vậy, ngoài con số hơn 300.000 lính Mỹ bị thương, số lính Mỹ chết trong “Chiến tranh cục bộ” từ 1965 đến 1968 tại Miền Nam Việt Nam là khoảng 58.000, gấp đôi số lính Mỹ chết trong chiến tranh Triều Tiên từ 1951 đến 1953, trong khi cộng sản Triều Tiên còn có sự hỗ trợ của gần 3 triệu lượt quân Trung Quốc.

VOA: Vậy theo ý ông chủ nghĩa cộng sản đã thắng Hoa Kỳ tại Việt Nam cách nay 35 năm?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Có một thực tế là Mỹ đã thua trận trước các lực lượng cộng sản Việt Nam nhưng điều này tuyệt nhiên không có nghĩa chủ nghĩa cộng sản đã thắng Mỹ.

Như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa cộng sản dưới màu sắc chủ nghĩa xã hội chưa bao giờ là một hiện thực ở Việt Nam bởi cho đến ngày hôm nay hệ tư tưởng ấy vẫn chỉ là “định hướng” như chính ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam thừa nhận.

Nói cách khác, tính ưu việt hay hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản mà Hoa Kỳ đại diện chưa bao giờ được chứng minh ở Việt Nam nên sẽ là quàng xiên khi nói rằng bên chiến thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam là hệ tư tưởng cộng sản. Sự sụp đổ ngoạn mục của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước chỉ có thể xác nhận quan điểm này của tôi.

VOA: Vậy theo Tiến sĩ, Hoa Kỳ thua trong chiến tranh Việt Nam là vì những lý do gì?

TS Cù Huy Hà Vũ: Phải khẳng định rằng không có sự giúp đỡ đắc lực của Liên Xô và Trung Quốc thì khó có thể tưởng tượng nổi Hà Nội đã có thể giành chiến thắng trước Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phương tiện chiến tranh mà các lực lượng cộng sản Việt Nam nhận được từ hai cường quốc cộng sản này chắc chắn không thể bì được với phương tiện chiến tranh mà Hoa Kỳ sở hữu tại chiến trường cả về số lượng lẫn chất lượng.

Để nói rằng, sự giúp đỡ mà Liên Xô và Trung Quốc đã dành cho Việt Nam trong cuộc chiến với Mỹ là đặc biệt quan trọng nhưng rõ ràng không phải là nhân tố quyết định chiến thắng của Việt Nam.

Tất nhiên không ai có thể sửa lại được lịch sử nhưng theo tôi, lẽ ra đã không có chiến tranh Việt Nam và tất nhiên đã không có chuyện Hoa Kỳ thua trận nếu như siêu cường quốc này đã không cố tình mắc sai lầm trong đánh giá đối phương. Thực vậy, việc Hoa Kỳ bao cho Pháp đến 80% chi phí quân sự vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất rốt cuộc không cứu vãn nổi sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ vào năm 1954 ngay từ lúc đó đã chứng tỏ ưu thế về phương tiện chiến tranh không phải cái để bảo đảm chiến thắng trước những chiến binh Việt Nam cộng sản.

Nói cách khác, lẽ ra chiến tranh Việt Nam đã có thể tránh được nếu như trước đó Mỹ đã không ngộ nhận những người lính của Tướng Giáp là những rô-bốt của Trung Quốc và Liên Xô, hay lính đánh thuê cho chủ nghĩa cộng sản, nếu như Hoa Kỳ đã dụng công để hiểu người Việt.

VOA: Như vậy phải chăng ý Tiến sĩ muốn nói rằng muốn xử lý quan hệ với Việt Nam, thì điều kiện tiên quyết là phải hiểu người Việt? Nếu đúng vậy thì tại sao?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, Hoa Kỳ đã quy những người cộng sản Việt Nam và những người ủng hộ họ vào chủ nghĩa cộng sản, tức những người này được điều khiển bởi một hệ tư tưởng duy nhất là chủ nghĩa cộng sản. Sai lầm chết người của Hoa Kỳ chính là chỗ này: người Việt có hệ tư tưởng riêng của họ nên không còn chỗ cho hệ tư tưởng khác, mà ở đây là chủ nghĩa cộng sản, trú ngụ.

Hiểu như thế thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là phương tiện mà người Việt sử dụng để phục vụ hệ tư tưởng riêng của mình.

Như vậy, Hoa Kỳ vào Việt Nam là để đánh chặn hệ tư tưởng cộng sản nhưng thực tế lại phải giao chiến với hệ tư tưởng của người Việt, điều mà Hoa Kỳ không hề tính tới trước khi lâm trận nên thất bại là tất yếu.

VOA: Ông vừa nói người Việt có một hệ tư tưởng, vậy hệ tư tưởng đó là gì, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Việt Nam là một nước đa sắc tộc và người Việt chiếm tới 90% dân số, do đó cái tên Việt được các triều đại phong kiến Việt Nam dùng để chỉ cư dân và làm cơ sở để đặt tên nước như Đại Cù Việt, Đại Việt rồi Việt Nam.

Người Việt hiện nay còn được gọi là người Kinh. Còn tại sao có cái tên này thì chưa có nghiên cứu nào, từ điển nào đề cập. Nhưng theo tôi, cái tên “Kinh” là đặt theo tên của Kinh Dương Vương, thủy tổ của người Việt theo huyền sử và điều này chứng tỏ người Việt rất có ý thức về nguồn cội của mình.

Như vậy, có thể nói dân tộc Việt Nam là một dân tộc thuần Việt suốt chiều dài lịch sử và chính đặc điểm “thuần Việt” này đã hình thành cho người Việt tư tưởng Một dân tộc, Một quốc gia hay Dân tộc đồng nhất với Quốc gia, để từ đó đi đến nguyên lý bất di bất dịch: không thể có độc lập dân tộc thực sự với một quốc gia bị chia cắt về lãnh thổ, hay độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất lãnh thổ quốc gia, thống nhất đất nước.

Cũng phải nói rõ rằng sự hình thành của người Việt miền Nam Việt Nam là do di dân từ Bắc Việt Nam xuống. Thực vậy, năm 1611, Chúa Nguyễn Hoàng là bề tôi Nhà Hậu Lê, đã từ Thuận Hoá, tức là Quảng Trị - Thừa Thiên - Huế ngày nay, là nơi ông trấn thủ, thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên để mở rộng bờ cõi Đại Việt xuống phía Nam.

Do đó, cái gốc Bắc của người Việt Miền Nam bản thân nó đã là một sự kháng cự khủng khiếp chống lại mọi toan tính hay hành vi chia cắt miền Nam khỏi miền Bắc.

Nhà thơ Xuân Diệu, bác ruột và là cha nuôi tôi, trong cuộc diễn thuyết đầu tháng 12/1945 tại Hà Nội với tiêu đề không gì rõ hơn: “Miền Nam nước Việt và người Việt Miền Nam” kêu gọi thanh niên Miền Bắc gia nhập các đội quân Nam tiến để cùng “đồng bào” Nam bộ chống Pháp tái chiếm, đã nhắc tới cái đau đáu nguồn cội của những người Việt theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam bằng những câu thơ bất tử của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

Tóm lại, hệ tư tưởng của người Việt là Việt Nam là một thể thống nhất và vì vậy là sự phủ nhận chủ nghĩa ly khai. Tôi gọi hệ tư tưởng ấy của người Việt là chủ nghĩa Nhất thể Việt, tạm dịch là Vietnamunism, tương tự như chủ nghĩa Bài Ly Khai vậy.

Tôi cũng khẳng định rằng một dân tộc có hệ tư tưởng của riêng mình là bất diệt.

VOA: Lịch sử Việt Nam là sự đan xen của các cuộc chiến tranh vói nước ngoài và các cuộc nội chiến. Vậy liệu chủ nghĩa Nhất thể Việt hay chủ nghĩa Bài Ly Khai của người Việt mà ông vừa nói tới liệu có mâu thuẫn với các cuộc nội chiến không, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng là lịch sử Việt Nam không chỉ gồm các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và vệ quốc. Thế nhưng có một điều vô cùng đặc biệt và tưởng chừng mâu thuẫn là các cuộc nội chiến lại không dẫn đến sự chia cắt lãnh thổ mà ngược lại, củng cố sự thống nhất của quốc gia.

Thực vậy, các cuộc nội chiến đều nổ ra vào giai đoạn thoái trào của triều đình đương thời như một sự tất yếu để bầu chọn người lãnh đạo mới của quốc gia. Điều này là cốt tử đối với người Việt vì nếu không kịp thời thay thế triều đình suy vi thì Việt Nam sẽ là miếng mồi ngon cho phong kiến Trung Hoa. Nghĩa là “Nội chiến hay là Chết” trong bối cảnh Việt Nam luôn bị nước lớn phương Bắc này rình rập thôn tính.

Tóm lại, cần xem nội chiến như chất kháng thể có sẵn trong cơ thể quốc gia Việt Nam có chức năng can thiệp kịp thời để lành mạnh hoá cơ thể.

Cũng bởi đều nhằm tới sứ mạng quốc gia ấy nên không bên tham chiến nào có ý đồ cát cứ, ly khai dẫn tới chia cắt lãnh thổ quốc gia. Nghĩa là “được ăn cả, ngã về không” như cách nói dân gian và thỏa hiệp nếu có thì chỉ là tạm thời.

Điển hình cho quyết tâm nội chiến để duy trì và củng cố sự thống nhất quốc gia Việt Nam là Chúa Nguyễn Ánh. Sau khi đánh bại Chúa Trịnh rồi Triều Tây Sơn trong cuộc nội chiến nổ ra khi Triều Lê mạt vận, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế và để chứng tỏ thống nhất đất nước là mục tiêu tối thượng của cuộc chiến do ông tiến hành, đã ghép chữ đầu của Gia Định là thủ phủ Miền Nam với chữ cuối của Thăng Long là kinh đô Nhà Lê ở Miền Bắc để làm niên hiệu Gia Long.

Để nói thống nhất Bắc-Nam, thống nhất đất nước Việt Nam là vấn đề có tính lịch sử, là yêu cầu tối thượng của hệ tư tưởng của người Việt hay chủ nghĩa Nhất thể Việt và vì vậy là bất khả kháng. Do không hiểu được người Việt như thế nên Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự nhằm duy trì Vĩ tuyến 17 chia đôi Việt Nam và thất bại là cái giá phải trả.

VOA: Vậy theo Tiến sĩ, chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30/4/1975 là cuộc chiến của Hoa Kỳ hay là nội chiến giữa người Việt với người Việt?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Theo tôi chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ được bắt đầu từ cuối cuộc chiến tranh của Pháp tại Đông Dương khi Hoa Kỳ quyết định tài trợ 80% chi phí cho cuộc chiến tranh này như đã đề cập. Tuy nhiên cuộc chiến tranh này của Hoa Kỳ lại dẫn đến cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa những người Việt. Vì vậy nói chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến là không sai nhưng đó chỉ là một cuộc chiến trong một cuộc chiến khác, cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ tiến hành.

Trên thực tế, giai đoạn sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam vào năm 1973 theo Hiệp định Paris được các chuyên gia quốc tế gọi là giai đoạn “Việt nam hoá” chiến tranh của Hoa Kỳ.
Chính vì vậy tôi cho rằng ngày 30/4/1975 là ngày kết thúc cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời cũng là ngày kết thúc cuộc nội chiến giữa những người Việt.

VOA: Ông nghĩ sao về cách diễn đạt của ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam và nguyên cả bộ máy tuyên truyền cho rằng ngày 30/4/1975 là “Ngày giải phóng Miền Nam” ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi nói “giải phóng Miền Nam” thì không thể không xác định giải phóng Miền Nam khỏi ai, khỏi cái gì.

Trước hết, chắc chắn không phải “giải phóng Miền Nam” khỏi sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30/4/1975 quân đội cộng sản nhận sự đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh, đó chưa kể Hoa Kỳ đã rút hết quân khỏi Miền Nam từ năm 1973 theo Hiệp định Paris.

Vậy chỉ còn khả năng “giải phóng Miền Nam” khỏi chế độ tư bản, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác – Lê nin. Tại thời điểm năm 1975 thì đúng là như vậy do có sự ngộ nhận của một bộ phận những người cộng sản Việt Nam, mà bằng chứng là các chiến dịch “cải tạo công thương nghiệp tư doanh” và “tập thể hoá nông nghiệp” trên cơ sở quốc hữu hoá cơ sở sản xuất, đất đai thuộc sở hữu tư nhân do chính quyền mới tiến hành ngay sau đó.

Tuy nhiên tại thời điểm hiện nay thì quan niệm đó chắc chắn không chỉ là lỗi thời mà còn là phản động theo đúng nghĩa đen của từ này vì ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã công khai đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

VOA: Ông có thể chứng minh điều này được không vì cho đến thời gian gần đây, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định với chủ nghĩa Xã hội?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Cốt lõi của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lê Nin là kinh tế Nhà nước chỉ huy hay kinh tế tập trung, kinh tế tư nhân được coi là “bóc lột người” bị loại trừ. Thế nhưng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phá sản tuyệt đối vào năm 1985 khi chính sách giá-lương-tiền của Chính phủ Việt Nam gây lạm phát tới 900%, dẫn đến kinh tế tư nhân hay kinh tế thị trường được Đảng cộng sản Việt Nam phục hồi tại Đại hội 6 của Đảng vào năm sau, 1986.

Nhưng phải đến năm 1990 thì chủ nghĩa tư bản mới được chính danh bằng Luật Công ty và doanh nghiệp tư nhân. Và Đại hội 10 của đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra cách đây 4 năm đã hoàn tất công cuộc phá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng cách chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân.

Ngoài ra, hai giai cấp được đảng Cộng sản Việt Nam coi là nòng cốt xây dựng chủ nghĩa xã hội và là đối tượng được hưởng sự chăm sóc đặc biệt của chế độ này là công nhân và nông dân, Búa và Liềm ấy, hiện nay trên thực tế lại thuộc những người cùng khổ của xã hội, tựa những gì mà Nguyễn Ái Quốc đã mô tả cách đây 90 năm trong báo Le Paria - Người cùng khổ.

Thực vậy, ở nhiều địa phương công nhân bị bóc lột và bị xúc phạm nhân phẩm thậm tệ, không có quyền đình công trên thực tế, còn nông dân thì bị chính quyền công nhiên chiếm đoạt đất đai, nguồn sống có thể nói là duy nhất của họ.

VOA: Nếu vậy tại sao ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lê nin, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Sở dĩ có chuyện ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam nói một đằng, làm một nẻo là vì họ sợ mất quyền lợi của bản thân. Thực vậy, nếu chính thức tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa xã hội thì Đảng cộng sản Việt Nam sẽ mất độc quyền lãnh đạo đất nước trong khi quyền lực lại là phương tiện làm giàu của đại đa số đảng viên có chức vụ.

Tóm lại, việc duy trì cho Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo đất nước không gì khác hơn là để phục vụ lợi ích phi pháp của một nhóm nhỏ trong Đảng cộng sản Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân trong đó có hàng triệu đảng viên cộng sản và vì vậy quyết không thể kéo dài hơn được nữa!

Do đó, để tránh cho ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam một sự sụp đổ như đã diễn ra với các chính thể cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều vì hành xử của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân đáng tiếc là vẫn đậm chất nông dân theo đó cách mạng đồng nghĩa với trả thù, phục hận, cách duy nhất là mau chóng thực hiện chế độ đa đảng, điều mà Hiến pháp Việt Nam chưa bao giờ cấm và bản thân Hồ Chí Minh người sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam đã chủ trương và thực hiện.

VOA: Nghĩa là Tiến sĩ cho rằng cách diễn đạt “Ngày giải phóng Miền Nam” theo ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và bộ máy tuyên truyền bây giờ là không đúng?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng như vậy và vì thế cần phải bỏ. Đó là chưa kể cách diễn đạt này dễ bị diễn giải thành “Miền Bắc thôn tính Miền Nam” và trong trường hợp đó lại trở thành mầm mống gây chia rẽ Bắc – Nam không chỉ trong nhân dân mà trước hết và ngay trong chính nội bộ những người cộng sản.

Mặt khác, không thể nào thực hiện được hoà hợp, hoà giải với những người Việt bên kia chiến tuyến như Nhà nước cộng sản Việt Nam chủ trương nếu Nhà nước này vẫn duy trì cách diễn đạt mang đậm chất “thắng – thua” như trên.

Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận tính lịch sử của ngày 30/4/1975 vì đó là ngày đất nước Việt Nam thống nhất sau 30 năm chiến tranh, độc lập dân tộc được Chính phủ Hồ Chí Minh mà phụ thân tôi, Cù Huy Cận là bộ trưởng thành viên, tuyên ngày 2/9/1945 đến lúc đó mới thực sự trọn vẹn.

So với những nước khác cũng bị Chiến tranh lạnh chia cắt thì đó dứt khoát là một kỳ tích của người Việt Nam. Thực vậy, mãi 14 năm sau bức tường Berlin mới sụp đổ còn bán đảo Triều Tiên thì chưa biết khi nào mới có thể chứng kiến Bàn Môn Điếm được tháo dỡ. Hoàn cảnh Trung Quốc và Đài Loan tuy có khác đôi chút, nhưng cũng vậy, chưa biết bao giờ mới chung một màu cờ.

Do đó “Ngày thống nhất đất nước” theo tôi là thích hợp nhất để diễn đạt ngày 30/4/1975 và cũng là trung thành với nguyên lý “Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất đất nước” của chủ nghĩa Nhất thể Việt hay hệ tư tưởng của người Việt.

VOA: Chúng tôi được biết vào tháng 3 vừa qua, Tiến sĩ có gửi lãnh đạo Nhà nước Việt Nam kiến nghị xây Đài tưởng niệm chung cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu bảo vệ Hoàng sa và Trường Sa, trong đó ông đề nghị tôn vinh các quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bằng cách công nhận họ là liệt sĩ. Xin ông cho biết mục đích khi ông đã đưa ra sáng kiến này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Thực lòng khi đưa ra Kiến nghị tôi không nhằm bất cứ mục đích chính trị nào mà chỉ đơn giản nghĩ rằng tất cả những ai đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đều có quyền được Nhà nước thay mặt nhân dân Việt Nam tri ân và tri ân một cách xứng đáng.

Trừ những kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam, không ai có quyền tước đoạt cái quyền thiêng liêng ấy của những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng sa, lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam.

Tất nhiên khi Kiến nghị này được Nhà nước Việt Nam nghiêm túc thực hiện thì đó sẽ là sự khởi đầu quan trọng cho hòa hợp, hoà giải giữa những người Việt từng ở hai bờ chiến tuyến.

Nhưng để có được hoà hợp, hoà giải dân tộc thực sự và bền vững thì Nhà nước Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về vấn đề này.

VOA: Ông có thể nói rõ hơn về chuyện thay đổi căn bản tư duy này, chẳng hạn thay đổi như thế nào, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoà hợp, hoà giải dân tộc là xuất phát từ lợi ích chung, lợi ích quốc gia nên dứt khoát không phải là sự ban phát của nhà cầm quyền mà phía bên kia là kẻ chịu ơn, không phải là sự tha thứ, khoan dung dành cho những đứa con hư biết hối lỗi như cách Nhà nước Việt Nam thể hiện bấy lâu nay.

Hoà hợp, hoà giải dân tộc là biết tôn trọng và tốt hơn nữa, biết nhân nhượng những quan điểm chính trị khác biệt, kể cả đối lập để phụng sự Tổ quốc Việt Nam một cách tốt nhất, hiệu quả nhất. Nói cách khác, hoà hợp, hoà giải dân tộc là chấp nhận chung sống của các quan điểm chính trị khác biệt

Cần lưu ý rằng chính sách đoàn kết toàn dân tộc mà Nhà nước Việt Nam luôn đề cao trước hết phải là đoàn kết chính trị, tức đoàn kết các quan điểm chính trị khác biệt bởi nếu cùng chính kiến thì cần gì phải đoàn kết.

Tổ quốc Việt Nam không của riêng ai và vì vậy sẽ là có tội nếu Nhà nước Việt Nam chần chừ hoặc tồi tệ hơn, không thực tâm thực hiện hoà hợp, hoà giải dân tộc để mọi người Việt bất luận chính kiến đều có cơ hội cứu nước trước nguy cơ Trung Quốc xâm lược Trường Sa nói riêng, lãnh thổ Việt Nam nói chung, rõ ràng hơn bao giờ hết!

Nhân đây một lần nữa tôi kêu gọi ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam bởi nếu không, Hoà hợp, hoà giải dân tộc sẽ lại trở thành Lừa dối dân tộc với hậu họa đã có thể nhìn thấy trước.

VOA: Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ về sự chân thành và thẳng thắn cũng như thời gian mà ông đã dành cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn này.

***********

ĐÔI LỜI GÓP Ý

Lại thêm một quan điểm lạ, dĩ nhiên là khá hơn "Tiến sĩ" vừa dỏm-vừa láu cá-vừa ngu Đỗ Ngọc Bích nhiều (y thị đã có một bài viết rác rưởi vô giá trị đăng trên trang Việt ngữ BBC mà Diễn Đàn Ái Hữu Ninh Thuận không đăng lại vì sợ làm dơ bẩn và làm mất giá trị của Diễn Đàn này), nhưng vẫn không đúng với sự thật lịch sử. Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ tuy có một lập trường và ý thức dân tộc nhưng lại rất phiến diện trong cái phạm trù "Nam tiến", không phù hợp với những gì thực sự đã diễn ra. Thực ra thì cộng sản lợi dụng dân tộc chủ nghĩa và những người quốc gia yêu nước tại miền Bắc làm lính xung kích cho cái gọi là chiến tranh "chống Mỹ cứu nước", tức là "chống xâm lăng", để mang lại chiến thắng cho người cộng sản, đảng cộng sản, và chủ nghĩa cộng sản; nhưng rủi thay cái chiến thắng mà cộng sản giành được tại Việt Nam cũng là cái chiến thắng sau cùng của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Chính cái chiến thắng đó đã đẩy cả hai triệu cái miệng đi khắp thế giới mà nói với mọi người rằng "chúng tôi đã phải chạy trối chết để trốn thoát khỏi cái địa ngục kinh hoàng cộng sản, chúng tôi là những nhân chứng sống đây, hãy nhìn gương chúng tôi đây mà tránh xa bọn cộng sản và đừng bao giờ theo bọn cộng sản", và chính những chứng nhân lịch sử đó đã góp phần trong cuộc đánh sập chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu và làm cho cộng sản quốc tế tan nát vô phương cứu chữa.

Bọn Việt cộng phải đổi mới về kinh tế để tự cứu mình, nhưng chúng vẫn là Việt cộng từ mấy thế hệ liên tục. Chúng đổi mới về kinh tế nhưng không đổi mới về chính trị, là cách mà chúng học đòi từ Trung cộng để duy trì và củng cố quyền lực, làm gì có chuyện cộng sản Việt Nam lại không phải là cộng sản. Những khuôn mặt ấy, những con người cộng sản ấy từ Hồ chí Minh đến Võ nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Duẫn, Võ văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh... đều là những kẻ đã dạy cho đàn em đấu tố cha mẹ mình, tàn sát đồng bào mình, tắm máu dân tộc mình. Nếu chúng không phải là người cộng sản thì là ai vậy? Chỉ lấy ví dụ như vụ thảm sát Mậu Thân chẳng hạn, để thấy rõ bản chất cộng sản tàn ác, chuyên chính của chúng. Chúng đã có khi nào nhận tội trước quốc dân đâu? Vậy chúng yêu nước, yêu dân tộc ở chỗ nào?

Cả miền Bắc chẳng qua bị bọn cộng sản lừa bịp, lợi dụng làm lính xung kích cho chủ nghĩa cộng sản núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu nước, liên tục tấn công đánh vào miền Nam, trong khi miền Nam chỉ lo phòng thủ nằm chờ địch tới thì đánh, không tới thì nghỉ, luận về chiến thuật chiến lược, miền Nam Việt Nam bị bó tay trong thế thủ trước một đối phương liên tục tấn công với cả một hậu phương hùng hổ không lo sợ bị tấn công. Chiến tranh mà như vậy thì đã thấy sự hơn thua từ lâu, nhưng không ngờ là miền Nam bị sụp đổ quá nhanh mà thôi!

Ngày 30 tháng 4/1975, chẳng phải là ngày thống nhất Bắc Nam, cũng chẳng phải là ngày giải phóng miền Nam, mà nó chính là ngày cộng sản xâm lăng và cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, và là ngày tang tóc của dân chúng miền Nam Việt Nam. Ngày đó không phải là ngày thống nhất nhân tâm mà là ngày phân rẽ nhân tâm, để rồi từ đó cha không còn tin con, vợ không còn tin chồng, không còn ai tin ai cả... và nếu như cái cột đèn mà có chân thì cũng đã bỏ nước mà ra đi từ lâu. Vậy thì thống nhất cái gì vậy? Chẳng lẽ việc xâm lăng cướp đoạt mọi thứ, vơ vét tất cả vào tay mình, tóm thu tất cả mọi thứ chở về miền Bắc, gom 3/4 dân miền Nam đưa vào khu kinh tế mới hay trại cải tạo, như thế gọi là thống nhất hay sao? Còn về những kiến nghị, đề nghị của Tiến sĩ Hà Vũ đối với những tên điếc, tham và ác cộng sản thì hãy chờ xem. Sớm hay muộn bọn chúng cũng sẽ nhốt ông vào tù, chỉ trừ phi ông là cò mồi đi mở lối thoát thân cho những tên tội đồ của dân tộc.

Kình Dương Đạo Nhân

THƯ CỦA NHÓM NGUYỄN HÙNG GỞI CHỦ TỊCH TẬP ĐOÀN GOOGLE VỀ VIỆC BẢN ĐỒ CỦA GOOGLE IN SAI ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM - TRUNG HOA - GOOGLE MAPS CUNG CẤP BẢN ĐỒ SAI LỆCH THÔNG TIN VỀ LÃNH THỔ VIỆT NAM, HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ


Gần một nửa TP Lào Cai bị vẽ nằm bên kia biên giới - Ảnh: M.Q. - X.L.

Bức thư thứ ba của nhóm Nguyễn Hùng gửi ông Chủ tịch tập đoàn Google về những bản đồ của Google in sai đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc

Ngô Khoa Bá - Lê Quang Long - Nguyễn Hùng

[Xin xem bức thư thứ nhất và bức thư thứ hai đính kèm sau lá thư này]

April 24, 2010

Dr Eric E. Schmidt

Chairman

Google Inc.
1600 Amphitheatre Parkway
Mountain View , CA 94043
Phone: 1- 650-253-0000

Fax: 1- 650-253-0001

eschmidt@google.com

Re: Google map of the Sino-Vietnamese border

Dear Dr Schmidt:

This letter is a follow-up to our letters to Mr John Hanke, Vice President – Product Management, dated March 24, 2010 and April 09, 2010; from which we still have not received any correspondence. For your convenience, the copies of these letters are attached herewith.

As you are aware, not only we, but the majority of Vietnamese back home and around the world, are anxious to hear from Google regarding our serious concern about the publication of the maps of the border regions between Vietnam and China.

This is a matter of the survival and existence of our people and the territorial integrity of our country. On these borders, our forefathers sacrificed their lives to protect every inch of our lands against countless invasions from imperial forces from the North. The most recent invasion of Chinese forces in 1979 on the whole northern border regions between Vietnam and China caused death of not only thousands of soldiers but also thousands of innocent Vietnamese people living along the border.

As the border dispute between Vietnam and China is still affecting our people’s hearts and minds along with the current conflicts about Paracel and Spratly islands, we strongly suggest that Google to temporarily withdraw the publication of the maps showing the border lines between Vietnam and China until all documents about the border lines from both Vietnamese and Chinese governments are announced, carefully studied and the matter is resolved.

We would appreciate it very much if you would kindly respond to our request.

Thank you for your prompt consideration.

On behalf of concerned Vietnamese,

Ba Ngo ( United States ) wissai@yahoo.com

Long Le ( New Zealand ) quanglong39@yahoo.co.nz

Hung Nguyen ( Australia ) hungthuoc@yahoo.com

———————————————————–

24 tháng 04 năm 2010

Dr Eric E. Schmidt

Chairman

Google Inc.
1600 Amphitheatre Parkway
Mountain View , CA 94043
Phone: 1- 650-253-0000

Fax: 1- 650-253-000

eschmidt@google.com

Đề mục: Bản đồ vùng biên giới Việt Trung trên Google Maps

Kính thưa Dr Schmidt:

Chúng tôi viết thư này tiếp theo hai bức thư chúng tôi đã gởi đến ông John Hanke, Phó Tổng Giám đốc Điều hành sản phẩm, vào hai ngày 24/03/2010 và 09/04/2010 trước đây nhưng chưa được phúc đáp. Bản sao của hai bức thư này được đính kèm để ông tham khảo.

Như ông biết rõ, không những chỉ có chúng tôi, mà đa số đồng bào Việt Nam trong nước và khắp thế giới đang trông chờ quyết định chính thức của ông về việc phát hành những bản đồ vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trên trang mạng Google Maps.

Đây là vấn đề liên quan đến sự sống còn của đồng bào và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước chúng tôi. Chinh vì sự vẹn toàn lãnh thổ này mà trong mấy ngàn năm qua, tổ tiên chúng tôi đã liên tục hy sinh tính mạng để bảo vệ từng tấc đất, chống lại nhiều đợt xâm lăng của những thế lực bá quyền từ phương Bắc. Đợt xâm lược mới nhất của quân đội Trung Quốc xảy ra vào năm 1979, trên toàn vùng lãnh thổ phía Bắc giữa Việt Nam và Trung Quốc, không những đã làm cho nhiều ngàn binh sĩ Việt Nam phải hy sinh, mà còn khiến cho hằng ngàn thường dân vô tội sống dọc theo đường biên giới bị thảm sát.

Trong lúc sự tranh chấp lãnh thổ vùng biên giới Việt Trung vẫn còn ảnh hưởng đến tâm tư của đồng bào chúng tôi, tiếp theo đó, cuộc tranh chấp hiện đang diễn ra gay gắt về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông, người dân Việt chúng tôi khẩn thiết yêu cầu ông tạm thời ngưng phổ biến những bản đồ của vùng biên giới Việt Nam và Trung Hoa cho đến khi những tài liệu về đường biên giới của Việt Nam và Trung Quốc được công bố, nghiên cứu cẩn thận và được giải quyết thỏa đáng.

Chúng tôi rất mong nhận được thư trả lời của ông về vấn đề nêu trên.

Xin chân thành cám ơn sự quan tâm nhiệt tình của ông.

Thay mặt người Việt khắp nơi:

Ngô Khoa Bá ( Hoa Kỳ )

Lê Quang Long (Tân Tây Lan)

Nguyễn Hùng (Úc)

——————————————————————–

Phụ lục:

Bức thư gửi ngày 9-4-2010

April 09, 2010

Google Inc.

1600 Amphitheatre Parkway
Mountain View , CA 94043
Phone: 1- 650-253-0000
Fax: 1- 650-253-0001

Attn: Mr. John Hanke

Vice President, Product Management

Re: Google map of the Sino-Vietnamese border

Dear Mr. Hanke:

This letter is a follow up on our letter to you dated March 24, 2010. We are wondering if you have had the opportunity to read our letter since we have not heard from you. As you would imagine, not only we, but all the Vietnamese back home, are anxious to know what sources your organization consulted in mapping the border between Vietnam and China, which have resulted in numerous errors in favor of China as outlined in our letter of March 24, 2010.

We would appreciate it very much if you would kindly respond to our inquiry.

Thank you for your prompt consideration.

On behalf of concerned Vietnamese,

Ba Ngo ( United States )

Email address: wissai@yahoo.com

Long Le ( New Zealand)

Hung Nguyen ( Australia )

********************************************************

Lược ghi cuộc trao đổi với phóng viên Tú Anh của RFI về những sai sót của Hội địa lý quốc gia Hoa Kỳ và của Google

Source: RFI

Ngày 15-4-2010, nhân Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ thừa nhận sai sót trong việc ghi chú chữ China dưới quần đảo Hoàng Sa trên tấm bản đồ thế giới do họ vừa phát hành, đài RFI đã có buổi phỏng vấn hai anh Nguyễn Hùng và Lê Quang Long là hai trong ba tác giả đã liên tục gửi nhiều thư đến Hội ấy đòi hỏi phải sửa chữa. Cùng thời gian với những lá thư của 3 người Việt này, nhóm GS Ngô Vĩnh Long và Vũ Quang Việt ở Hoa Kỳ và Nhóm khởi xướng trang mạng Bauxite Việt Nam ở Việt Nam cũng đã có thư gửi đến Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ với cùng một mục đích (tất cả những thư này đều đã được đăng trên Bauxite Việt Nam bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt). Và ở trong nước thì hầu như đã dấy lên cả một phong trào phản đối việc làm sai của cơ quan in ấn địa đồ tư nhân rất uy tín này của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, trong khi Hội địa lý quốc gia Hoa Kỳ có hành động sai lầm như trên bị công luận rộng rãi phản ứng thì Công ty Google cũng đã phạm một sai sót không nhỏ là cho công bố những bản đồ giữa Việt Nam và Trung Quốc với đường biên giới lệch hẳn vào trong lãnh thổ Việt Nam, mà trang mạng Bauxite Việt Nam đã kịp thời lên tiếng, kế đó bà Nguyễn Phương Nga đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam chính thức tuyên bố việc làm của họ là sai, rồi tiếp đến 3 anh Nguyễn Hùng, Ngô Khoa Bá và Lê Quang Long lại viết thư gửi đến Google, nhưng đến nay, Google vẫn giữ thái độ im lặng.

Trong bài trả lời RFI, hai anh Nguyễn Hùng và Lê Quang Long cũng đã bày tỏ nỗi bức xúc trước thái độ im lặng khó hiểu của một cơ quan nổi tiếng thế giới như Google. Để cho tiếng nói của mình được nhiều người Việt trong nước và trên thế giới theo dõi tường tận hơn, hai anh đã văn bản hóa những lời phát biểu miệng của mình gửi đến BVN. Chúng tôi có biên tập lại ít nhiều về câu chữ và xin giới thiệu với quý bạn đọc những lời tâm huyết dưới đây của các anh cùng với lá thư các anh đã gửi cho Google và cho các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam nhân sự sai sót của Google Maps.

Bauxite Việt Nam
__________________________________________

Phỏng vấn anh Nguyễn Hùng

Nguyễn Hùng – Kính thưa quí vị khán thính giả của đài RFI, anh em chúng tôi là Hùng, Long và Bá, một nhóm anh em người Việt ở nước ngoài. Hôm 10/03/2010 chúng tôi có gởi một văn thư cho Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ ( NGS ) sau khi chúng tôi được một người bạn tên Mai Nghiêm email cho biết một tin nghiêm trọng: bản đồ của Hội Địa dư của Mỹ in tên quần đảo Hoàng Sa của nước mình với tên Trung Hoa là Xisha Qundao và dưới tên này họ lại để thêm chữ China màu đỏ. Khi biết được điều đó, anh em chúng tôi rất buồn, rất bực, vội cùng nhau viết ngay một văn thư gởi đến cơ quan này phản đối việc làm sai trái ấy.

Chúng tôi liên lạc ngay với một số bạn bè người Việt đồng tâm đồng chí báo cho họ biết tin này để họ cùng góp ý vào văn bản văn thư gởi đi. Một mặt chúng tôi gởi thẳng đến cơ quan NGS, mặt khác cũng gởi cùng lúc về các cơ quan thông tin trong nước và cả Chánh phủ Việt Nam để trong nước biết và cùng phối hợp phản đối Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ. Trong quá trình biên soạn văn thư, trong khi anh em chúng tôi muốn làm liền và gửi liền thì cũng có những anh chị cho rằng phải có thời gian để chuẩn bị và tìm tài liệu. Nhưng theo quan điểm của anh em chúng tôi, việc tìm tài liệu là việc làm sau. Mình là ngưới Việt Nam, lúc trước sống tại miền Nam thì đã biết quần đảo Hoàng Sa này là của Việt Nam rồi, và Trung Quốc họ đánh chiếm từ năm 1974. Chính NGS đã đăng điều đó từ năm trước, năm nay họ lại đăng lại như trên. Đó là lý do khiến chúng tôi không chần chừ nữa mà tiến hành viết và gởi thư ngay. Khi chúng tôi chuyển những thư này về trong nước thì tin tức bùng lên. Ngay ngày hôm sau các báo chí trong nước liền đăng tải. Có một số báo chí trong nước đăng nguyên văn bản dịch tiếng Việt của lá thư bằng tiếng Anh chúng tôi gởi cho NGS. Liền sau đó trang mạng Boxitevn.net cho đăng toàn bộ văn bản cả bản dịch kèm với nguyên văn tiếng Anh, kể cả bức thư gởi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng của chúng tôi. Đầu đuôi sự việc diễn ra là như vậy.

Tú Anh – Thưa anh, do đâu mà Mai Nghiêm là người đầu tiên phát hiện trước vụ này và thông báo cho các bạn?

Nguyễn Hùng – Dạ, hôm 2/3 chúng tôi nhận được email của người bạn, qua người bạn đó biết được một người có tên Mai Nghiêm. Theo chúng tôi biết thì NGS đã in bản đồ này từ tháng 9/2009. Nhưng vì mình không phải là người thường xuyên đọc tạp chí của Hội Địa dư Quốc gia Mỹ thành ra không biết. May mắn nhờ người có tên Mai Nghiêm khám phá và thông báo cho biết. Thực ra, chúng tôi thường viết những văn thư gởi về Chính phủ Việt Nam và các cơ quan thông tin báo chí trong nước để báo những tin quan trọng liên quan đến Việt Nam, hoặc nhiều lần viết những thư phản đối các việc làm sai trái của nước ngoài đối với nước ta. Lần viết thư này là lần thứ 5 hay thứ 6. Lần đầu tiên chúng tôi viết văn thư gởi cho Tòa Đại sứ Trung Quốc và Tòa Đại sứ Việt Nam tại Tân Tây Lan phản đối Trung Quốc bắt giữ ngư phủ của nước mình vào tháng 9 năm ngoái. Từ đó đến giờ, anh em chúng tôi đã kết hợp làm nhiều văn thư phản đối Trung Quốc.

Tú Anh – Thưa anh Hùng, sau khi các anh gởi văn thư phản đối đến Hội Địa lý Hoa Kỳ về vấn đề quần đảo Hoàng Sa, Hội Địa lý Hoa Kỳ phản ứng như thế nào?

Nguyễn Hùng – Sau khi chúng tôi gởi văn thư này cho Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ và những bản sao về trong nước, trong vòng 3 ngày thì anh em chúng tôi lại được tin trên RFI cho biết Hội Luật gia tại TP Hồ Chí Minh báo rằng Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ đã đồng ý thay đổi rồi. Khi đó chúng tôi mới tìm hiểu và vội vàng viết một văn thư thứ nhì gởi cho Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ. Chúng tôi muốn biết quyết định của Hội thực sự là như thế nào. Chúng tôi đặt vấn đề với NGS nếu có quyết định, yêu cầu xóa bỏ tên Trung Hoa Qundao Xisha hay chữ China khỏi quần đảo Hoàng Sa, nên dùng tên quốc tế Paracel Islands. Sau đó, được biết tin này thực ra không đúng. Hội Luật gia TPHCM cho tin sai. Họ đã dựa vào một bản đồ nào đó nên tuyên bố như vậy. Không biết ý đồ của Hội Luật gia TPHCM là như thế nào.

Đến ngày 17/03/2010, Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ gởi cho anh em chúng tôi một thư thông cáo báo chí rằng ngày 15/03 Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ đã họp và quyết định sửa lại tên gọi của quần đảo Hoàng Sa. Họ chỉ báo quyết định sẽ sửa lại trong tương lai, nhưng sửa đổi như thế nào thì họ không nói rõ ràng. Anh em chúng tôi mới lập tức viết một văn thư nữa gởi Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ yêu cầu phải cho chúng tôi biết khi nào Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ sẽ sửa, và chúng tôi yêu cầu nếu sừa, Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ cần bỏ những chữ Trung Hoa, cả chữ China, và cả tên quần đảo theo cách gọi Trung Quốc phiên âm. Nếu được chỉ dùng tên Paracel Islands thôi cho các bản đồ. Vì vùng quần đảo này vẫn còn đang tranh chấp chủ quyền. Việt Nam chúng tôi vẫn đang tranh đấu giành lại quần đảo Hoàng Sa này.

Sau đó, ngày 25/03 Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ viết thư cho chúng tôi cho biết họ có thêm quyết định mới về vấn đề này. Căn cứ theo quyết định mới này, những yêu cầu của đồng bào trong nước, của các cơ quan trong nước, của các học giả người việt khác và của cá nhân chúng tôi coi như đều được chấp thuận rất đầy đủ. Họ sẽ chỉ dùng tên Paracel Islands thôi. và với những bản đồ chi tiết họ sẽ ghi chú thêm: “Trung Quốc đánh chiếm quần đảo này và Việt Nam đang đòi lại”. Chúng tôi nhận thấy điều này rất tốt cho mục đích của chúng ta. Họ đồng thuận là Trung Quốc chiếm đóng chứ không phải của Trung Quốc. Nếu gọi là “Trung Quốc chiếm đóng” thì quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam rồi. Trong tương lai, chưa biết lúc nào, chúng ta vẫn có thể đòi lại quần đảo này.

Tú Anh – Thưa anh, tiếp theo sau khi giải quyết được vấn đề bản đồ quần đảo Hoàng Sa với Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ thì xảy ra vụ Google, nhiều địa danh ở miền cực Bắc của Việt Nam như tỉnh Lào Cai, thành phố Lào Cai chẳng hạn thông qua đường ranh do Google vẽ, rơi vào phía kia, tức là nằm về phía bên kia đường biên giới với Trung Quốc. Rút kinh nghiệm đối phó với Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ thì các anh đối phó ra sao với Google?

Nguyễn Hùng – Thưa anh, trong lúc vụ phản đối với Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ đang diễn tiến thì lại có tin thành phố Lào Cai bị Google cho đăng lên cho thấy đường biên giới cắt ngang thành phố Lào Cai, một phần của thành phố Lào Cai nằm sang phía Trung Quốc. Tin này anh em chúng tôi cũng đã đọc qua các trang mạng ngoại quốc. Nay tin này được trong nước phổ biến [mạng boxitvn.net khởi đầu] thành ra có tầm mức quan trọng hơn, vì từ tin bản đồ Hoàng Sa đến tin này là cả một chuỗi tác động tâm lý không hay đối với người Việt chúng ta. Dựa vào tin đó, trước mắt anh em chúng tôi không thể làm gì được, tại vì mình không có bằng chứng nào về pháp lý để cãi lại với Google. Đến ngày 20/03 Bộ Ngoại giao Việt Nam ra môt thông cáo tuyên bố là Google sai. Và một số cán bộ phụ trách vấn đề biên giới cũng nêu lên rằng Google không những sai về thành phố Lào Cai mà rất nhiều địa danh khác cũng bị sai, và đường biên giới Google dùng lại kéo sâu vào vài cây số trong lãnh thổ Việt Nam. Sau khi được tin Chánh phủ Việt Nam phản đối, chúng tôi dựa vào đó viết một văn thư gởi cho công ty Google, yêu cầu Google cung cấp cho biết tài liệu từ đâu họ có được để đưa lên những bản đồ sai trái như vậy. Về phía Việt Nam, chúng tôi có gởi về cho Chánh phủ, Đảng và Nhà nước Việt Nam một văn thư yêu cầu họ nhanh chóng phổ biến chi tiết những hiệp định, nghị định họ đã ký với Trung Quốc về đường biên giới phía Bắc. Để từ đó người dân Việt Nam mới có cơ sở chống lại những tổ chức, những cá nhân nào in sai bản đồ này.

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/368876/Sai-hoan-toan-va-khong-co-gia-tri-phap-ly.html

Tú Anh – Thưa anh, đến nay Google có trả lời chưa?

Nguyễn Hùng – Dạ chưa. Bộ Ngoại giao tuyên bố ngày 20/03, chúng tôi gởi cho Google ngày 24/03. Cho đến hôm nay chưa được Google trả lời. Anh em chúng tôi theo dõi báo chí trong nước thì không thấy báo chí trong nước nói gì thêm về vấn đề này. Chứng tỏ trong nước chưa được google trả lời chính thức sai đúng như thế nào. Sau đó chúng tôi có gởi về cho Bộ Ngoại giao Việt Nam văn thư thứ nhì, hỏi họ có nhận được kết quả gì chưa, cho chúng tôi biết để chúng tôi mừng. Và mục đích thứ hai là yêu cầu họ cho phổ biến chi tiết về đường biên giới phía Bắc giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đó là những gì mà chúng tôi đã làm. Nếu chúng tôi không nhận được trả lời của Google, anh em chúng tôi sẽ viết tiếp lá thư thứ hai gởi Google hỏi rõ lý do, để thúc họ trả lời chính thức cho đồng bào của mình biết.

Anh hỏi nguyên nhân nào mà đối với Google, đến nay vẩn chưa có kết quả, chúng tôi xin trả lời như thế này: sau khi chúng tôi chuyển các văn thư gởi cho NGS cho các cơ quan báo chí trong nước, họ đăng liền, rất là nhanh. Nhưng với vụ Google này, những thư chúng tôi viết cho Google gởi về trong nước lại không thấy báo chí trong nước phổ biến. Như vậy hiệu quả bị giới hạn rất nhiều. Đồng bào trong nước không phản ứng thì áp lực không được mạnh. Chúng tôi rất mong các cơ quan thông tin trong nước cho phổ biến tin này nhiều hơn và thường xuyên hơn, để từ đó chúng ta mới gây áp lực với Google, trước là yêu cầu họ sửa sai nếu họ sai, sau là yêu cầu họ cho biết từ đâu mà họ được cung cấp những tài liệu sai lầm về đường biên giới giữa hai nước để công bố lên một cách hàm hồ đến thế. Đối với Chánh phủ Việt Nam, đồng bào và chúng tôi cũng rất muốn biết cụ thể bản đồ biên giới phía Bắc này mà giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã ký với nhau hơn 11 năm rồi, nhưng cho tới ngày hôm nay quốc dân vẫn không biết gì một cách chi tiết về bản đồ này là như thế nào, đường biên giới là như thế nào, chỉ biết Chánh phủ đã ký rồi, đã hoàn tất rồi. Đường biên giới vốn rất quan trong cho sự bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam đối với Trung Quốc. Như chúng ta đã biết, Việt Nam luôn luôn bị Trung Quốc khống chế và xâm lược, thế mà chúng ta không biết rõ ràng đường biên giới thì làm sao chúng ta bảo vệ Tồ quốc chúng ta được. Do đó chúng tôi mong phía Chánh phủ Việt Nam sớm phổ biến đầy đủ các chi tiết này để cho đồng bào cả trong và ngoài nước biết. Đó là ý nguyện của anh em chúng tôi.

Tú Anh – Xin cám ơn anh Nguyễn Hùng
_____________________________________________

Phỏng vấn anh Lê Quang Long:

Lê Quang Long – Là người Việt, ai ai khi thấy sự việc sai trái đối với chủ quyền của nước mình, thì người nào cũng đều thấy có trách nhiệm phải làm sao lên tiếng để cho mọi chuyện được minh bạch, cái sai phải được sửa cho đúng. Là người Việt, thấy lương tâm mình không an, chúng tôi bàn với nhau là chúng tôi sẽ viết thư phản kháng gởi Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ. Chỉ như thế thôi.

Tú Anh – Đã hơn một tháng qua, từ ngày viết thư phản đối Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ về vấn đề quần đảo Hoàng Sa, đến nay công việc của các anh tiến triển như thế nào thưa anh?

Lê Quang Long – Về vấn đề với Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ, họ đã đồng ý sẽ sửa lại nghĩa là sẽ xài tên chung thôi, sẽ bỏ đi những chữ Trung Quốc ghi dưới quần đảo hoàng Sa trên tấm bản đồ do họ in. Đó lá điều mà chúng tôi thấy việc làm của chúng tôi đã không uổng phí. Và là điều chúng tôi rất mừng, được đa số người trong nước và nhiều người ở nước ngoài ủng hộ. Đó là một cách rất tốt trong nhiều cách để chúng ta bảo vệ chủ quyền đất nước của mình.

Tú Anh – Nguyên nhân sâu xa nào khiến cho anh em không tiếc công sức mà lên tiếng ngay, phản đối với các cơ quan nước ngoài như vụ Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ và sau đó vụ Google?

Lê Quang Long – Nguyên nhân chính là mình là người Việt Nam. Đó là nguyên nhân thứ nhất. Thứ hai là lương tâm của mình thúc đẩy mình làm. “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, chúng tôi hy vọng tiếng nói của chúng tôi góp lại và thêm nhiều người ủng hộ, thì sẽ dẫn đến thành công sau này.

Tú Anh – Dường như sau một tháng làm việc như vậy mà kết quả với Google chưa được khả quan lắm, có phải không anh?

Lê Quang Long – Kết quả với Google, họ chưa trả lời bởi vì chúng tôi không biết Google làm bản đồ như thế nào. Trên bản đồ của Google chúng tôi thấy họ vẽ sai, và chỉ ra những điều sai đó. Phát ngôn viên Chính phủ bà Phương Nga cũng nói là sai, và nói rằng đã gởi tài liệu cho các cơ quan của Liên hiệp quốc và các cơ quan làm bản đồ ấy. Bà ấy nói như vậy mà không trưng ra bằng cớ đã đưa tài liệu cho người ta như thế nào. Chúng tôi cũng không thấy những tài liệu đó. Thật ra trong cái thỏa hiệp năm 1999, chỉ thấy rất mập mờ, thấy mô tả đường biên giới đại khái cách đỉnh núi bao nhiêu cao, con suối bao nhiêu xa, chứ không thấy ghi tọa độ như thế nào cả. Như bây giờ mình dùng GPS (định vị bằng vệ tinh thế giới) nó chỉ rất rõ ràng. Không biết thời điểm đó, người ta có dùng tọa độ để định vị chưa.

http://www.biengioilanhtho.gov.vn/Media/bbg/News/Archives/vie/HiepuocVietNam-TQ-2000.pdf

Thứ hai là bản hiệp ước không có bản đồ đính kèm.

Thứ ba là người ký tên. Đại diện Chính phủ Việt Nam và đại diện phía Trung Quốc ký tên mà không biết ai là người đại diện. Văn kiện quốc tế mà lại thiếu điều quan trọng đó thì rất khó cho chúng tôi. Đối với Google, chúng tôi chỉ có thể dựa vào những gì Chính phủ Việt Nam loan báo và chúng tôi nói lại thôi. Chúng tôi không biết bản đồ mà Google nhận được, thực sự là do ai cung cấp, từ phía Chính phủ Việt Nam hay từ phía Trung Quốc? Hai loại bản đồ này khác nhau như thế nào, chúng tôi cũng không rõ. Sau khi gởi lá thư đầu tiên chúng tôi chưa nhận được thư trả lời của Google, chúng tôi mới gởi thêm cho họ lá thư thứ hai cách đây khoảng 5 ngày nhưng cũng chưa nhận được thư họ trả lời. Chúng tôi nghĩ nếu Chính phủ Việt Nam không phản đối mạnh thì họ cứ lờ đi.

Tú Anh – Với tư cách là cựu sinh viên du học tại Tân Tây Lan, các anh đã có phản ứng đầu tiên như vậy là rất quý. Thưa anh, việc làm của các anh có tạo ra phản ứng dây chuyện trong công luận Việt Nam trong và ngoài nước không, thưa anh?

Lê Quang Long – Tại ngoài nước thì đa số anh em quen biết thân nhau họ ủng hộ rất tích cực. Trong nước thì chúng tôi không rõ lắm về vấn đề này. Cũng có một số bạn bè trong nước họ không muốn dính dáng vào chuyện chính trị nhạy cảm, vì việc đó liên quan đế sự an nguy của họ. Họ không được tự do như chúng tôi ở đây. Chúng tôi được tư do, chúng tôi có quyền nói. Nếu chúng tôi không nói thì ai nói đây. Thành ra chúng tôi bắt buộc phải nói. Chính phủ phải lắng nghe tiếng nói của người dân, đem lại tự do cho họ. Như vậy đất nước mình mới tiến lên và mạnh lên được.

Tú Anh – Thưa anh Long, trong trường hợp Google không trả lời, các anh em có dự trù phương thức nào khác?

Lê Quang Long – Nếu họ không trả lời thì anh em chúng tôi cứ tiếp tục theo dõi vụ này. Chúng tôi chưa có đối sách nào ngoài việc tiếp tục nhắc nhở Google và thúc giục Chính phủ Việt Nam sớm cho chúng tôi và đồng bào biết rõ chi tiết đường biên giới trên bộ ký giữa nước ta và Trung quốc, vì nếu chúng tôi cứ tiếp tục lên tiếng trong khi không có cái bản đồ đường biên giới để chỉ cho họ biết rằng họ sai thì không ổn. Chúng tôi nói họ sai mà không có bản đồ chính thức của Chính phủ Việt Nam đưa ra thì chúng tôi khó mà phản biện lại họ. Mục đích của chúng tôi là thúc giục Chính phủ Việt Nam sớm phát hành bản đồ rõ ràng, đề chúng tôi có cứ liệu, và dựa vào đó yêu cầu họ sửa sai. Ngoài việc đó chúng tôi chưa quyết định sẽ tiến hành thêm cách nào khác. Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu.

Tú Anh – Hiện nay trên bản đồ của Google nhiều con đường của thành phố Lào Cai đã nằm phía bên kia biên giới của Trung Quốc…

Lê Quang Long – Dạ phải, dạ đúng rồi. Phát ngôn viên Việt Nam cũng đã xác nhận như vậy, nhưng lại không đưa ra bản đồ chính thức của Việt Nam để so với bản đồ của Google thì chúng tôi hay bất kỳ ai cũng không thể đối chất với họ.

Tú Anh – Xin cám ơn Kỹ sư Lê Quang Long.
________________________________________

Phụ lục

Thư gửi Công ty Google
March 24, 2010

Google Inc.
1600 Amphitheatre Parkway
Mountain View, CA 94043
Phone: +1 650-253-0000

Fax: +1 650-253-0001

Attn: Mr. John Hanke

Vice President, Product Management

Dear Mr. Hanke:

It has come to our attention that your maps of the border between Vietnam and China have been erroneous. The following are news reports emanating from Vietnam on March 22, 2010:

Vietnam has asked Google Inc to fix an error on its Google Maps website that appears to place parts of Vietnamese territory across the border in China, local press reported Monday.

The official Vietnam News reported that Ministry of Foreign Affairs spokeswoman Nguyen Phuong Nga had outlined the mistakes Saturday in a press conference with government-affiliated media.

In one of the errors, the border line on the website does not closely follow the river that forms the Vietnam-China border in the province of Lao Cai, placing part of the Vietnamese city of Lao Cai inside China.

The border line is similarly misplaced in the provinces of Quang Ninh and Dien Bien, placing the town of Mong Cai inside Chinese territory. Vietnam’s Ministry of Natural Resources and Environment last week said the errors involved thousands of square kilometers of Vietnamese territory.

Vietnam and China have had longstanding disputes over their border, and fought a brief but bloody war in 1979. The two countries signed a Land Border Treaty in 1999, and an agreement on border management in November 2009.

Nga said the details of the border demarcation had been supplied to UN agencies, and were available to map publishing companies…”

“Users who access Google Maps can see the service that a part of Viet Nam’s territory estimated at thousands of square kilometres is incorrectly mapped as part of China, said Do Viet Thi, deputy Director of the Ministry of Natural Resources and Environment’ s Border Line Centre.

“It’s clear to see that the border line at the northern border from Dien Bien Province to Mong Cai City of Quang Ninh Province is in the wrong place,” he said. The degree of error is particularly noticeable at Lao Cai and Mong Cai cities, with the border line between Viet Nam and China being mapped incorrectly and encroaching on Viet Nam’s territory.”

Google’s mapping of the border line between the two countries also put many Vietnamese border gates, such as Tan Thanh and Thanh Thuy, into Chinese territory, said Thi.

Thi said the border line between Viet Nam and China in this area follows river lines. In Lao Cai city, the border line runs along the Hong, Nam Thi and Ba Ket rivers while the border line near Mong Cai City runs along the Ka Long and Bac Luan rivers.

“There has been no change in the border line in this area since it was mapped by the two countries in the late 19th century,” said Thi.

Thi stressed that Google Maps was a free mapping service and did not have any legal value, but it could cause misunderstandings among users.”

As concerned Vietnamese, we would like to know what sources you utilized in producing the maps of the border of Vietnam and China. Additionally, please kindly let us know when you are going to fix the errors as requested by the Vietnamese government. The longer the errors stay on your maps, the more injurious to the integrity of the territory of Vietnam. As victims of China’s aggression for thousands of years, we are very sensitive to the accuracy of the border demarcation. A copy of this letter will be disseminated to the Vietnamese people to keep them abreast of our communication with your organization.

Thank you for your prompt consideration.

On behalf of concerned Vietnamese,

Ba Ngo (United States)

Email address: wissai@yahoo.com

Long Le (New Zealand)

Hung Nguyen (Australia)

List of Co-Signers:

Khoa Ba Ngo (Houston, TX, USA), Quang Long Le (Auckland, New Zealand)
Huu Han Huynh (USA), Van Tu Nguyen (Auckland, New Zealand)
Judy Huynh (USA), Dinh Lan Le (Switzerland)
Huu Kho Nguyen (Houston, TX, USA), Ngoc Bich Tran (Houston, TX, USA)
Hong Le (Sydney, Australia), Ngoc Hung Dang ( Brisbane, Australia)
Minh Triet Ngo (Los Angeles,CA, USA), Anh Tuan Mai (Canada)
Hung Nguyen (Sydney, Australia), Gia Tuyen Do (Houston, USA)
Mui Dinh (Sydney, Australia), Anh Lan Dinh (Sydney, Australia)
Thi Tan Nguyen (Sachse, TX, USA), Thi Sung Nguyen (Dallas, USA)
Thuy Mai Nguyen (Queensland, Australia), Thi Bach Linh Nguyen (Chicago, IL, USA)
Bich Lien Nguyen (Garland, TX, USA), Dinh Khai Tran (Las Vegas, Nevada, USA)
Yen Mikelis (Henderson, Nevada, USA), Van Nguyen (Las Vagas, Nev, USA)
Thi Phung Nguyen (Las Vagas, Nev, USA), Hai Nguyen (Washington D.C., USA)
Mai Tran (Melbourne, Australia), Phuong Tran (Melbourne, Australia)
Hưng Nguyen (Houston, TX, USA), Thi Thuoc Nguyen (Sydney, Australia)
Peter Nguyen (Louisiana, USA), Thi Hoa Nguyen (Louisiana, USA)
Thi Chau Nguyen (Sydney, Australia) , Khac Hong Do (Dussendoff, Germany)
Tracy Trang Nguyen (Sydney, Australia), Khac Tai Do (Dussendoff, Germany)
Dan Nguyen (Sydney, Australia), Thanh Nguyen (Sydney, Australia)
Julie Minh Nguyen (Sydney, Australia), Dennis Nhat Nguyen (Sydney, Australia)
Khoa Tong Ngo (Saigon, Vietnam), Khoa Bach Ngo (Houston, TX, USA)
Kim Hue Ngo (Houston, TX, USA), Phuong Mai Ngo (Houston, TX, USA)
Thi Tuyet Ngo (Houston, TX, USA), Thi Hanh Ngo (Houston, TX, USA)
Thi Guong Ngo (Houston, TX, USA), Thi Hanh Nguyen (Louisiana, USA)
Peter Binh Nguyen (Sydney, Australia), Thach Le (California, USA)
Vinh Tran (California, USA), Hong Nguyen (California, USA)
Huynh Trinh (California, USA), Huy Trinh (California, USA)
Tu Duong Tran (California, USA), Dung Trinh (California, USA)
Ngoc An Nguyen (California, USA), The Hung Nguyen (Prof, University of Danang ,Vietnam)
Thang Manh Nguyen ( Melbourne, Australia), Vo Tiep Nguyen (San Jose, California, USA)
Quoc Phan (WA, USA), Hoang Diep Do ( Thanh Tri, Hanoi Vietnam)
Quoc Ngu (Thanh Tri, Hanoi, Vietnam), Dang Dinh Dinh ( Daklak, Daknong, Vietnam)
The Van Phan ( Saigon, Vietnam), Truong Ngoc Tien Nguyen (Tuy an, Phu Yen, Vietnam)
Dinh Hoan (Saigon, Vietnam), Viet Ha Van (California, USA)
Duc Toan Nguyen, Ngoc Huyen Vu (Hanoi, Vietnam)
Duc Thien Kieu (Hanoi, Vietnam), Thi Huyen Nguyen (Hanoi, Vietnam)
Vien Huyen Vu (Hanoi, Vietnam), Quan Van Quan (Hanoi, Vietnam)
Chau Minh Tran (Houston, TX, USA), Thieu Quang Nguyen (Sydney, Australia)
______________________________


Khu vực thác Bản Giốc nhìn từ phía Việt Nam.

Bản dịch ra tiếng Việt của các tác giả

24 tháng 03 năm 2010

Google Inc.
1600 Amphitheatre Parkway
Mountain View , CA 94043
Phone: +1 650-253-0000

Fax: +1 650-253-0001

Attn: Mr. John Hanke

Vice President, Product Management

Kính thưa Ông Hanke,

Chúng tôi xin nói rõ với ông những bản đồ vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc được phổ biến trên Google có nhiều sai lạc. Dưới đây là những tin tức xuất phát từ Việt Nam, ngày 22 tháng 3 năm 2010 dẫn chứng về những sai lạc này:

Một bản tin trong nước vào ngày Thứ Hai cho biết Việt Nam đã yêu cầu Công Ty Google sửa lại những sai lạc trong trang mạng Google Maps cho thấy nhiều phần đất của Việt Nam bị vẽ nằm về phía bên kia biên giới thuộc Trung Quốc.

Thông tấn Xã Việt Nam tường trình rằng phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nguyển Phương Nga đã nêu ra những sai lạc này vào hôm Thứ Bảy, trong cuộc họp báo với các cơ quan truyền thông trong nước có liên hệ với Chánh phủ.

Một trong những sai lạc này là đường biên giới trong bản đồ được phổ biến trên mạng Google không chạy dọc theo con sông được thỏa thuận dùng làm đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong tỉnh Lào Cai, mà lại chạy xuyên qua thành phố Lào Cai, làm chia cắt mất một phần lãnh thổ Lào Cai của Việt Nam cho Trung Quốc.

Đường biên giới tại các tỉnh Quảng Ninh và Điện Biên cũng bị sai lạc tương tự như vậy, khiến cho thành phố Mông Cái nằm vào lãnh thổ của Trung Quốc. Tuần qua, Bộ Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã khẳng định rằng những sai lạc này ảnh hưởng đến nhiều ngàn kilo mét vuông của lãnh thổ Việt Nam.

Việt Nam và Trung Hoa đã và đang tranh chấp với nhau về biên giới trong thời gian khá dài và gần đây nhất là cuộc xung đột đẫm máu năm 1979. Sau đó hai nước đã ký Hiệp ước Phân định biên giới năm 1999, và một văn bản thỏa thuận về việc quản lý đường biên giới ký kết vào tháng 11 năm 2009.

Phát ngôn nhân Nguyễn Phương Nga tuyên bố rằng “Chi tiết của việc chính thức phân định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được cung cấp cho các cơ quan liên hệ của Liên Hiệp Quốc, và có sẵn cho các công ty tư nhân chuyên in và phổ biến bản đồ địa dư khi có yêu cầu”.

Ông Đỗ Việt Thi, Phụ tá Tổng Giám đốc, Bộ Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho biết: “Người sử dụng trang mạng Google Maps khi truy cập bản đồ vùng biên giới Việt Nam và Trung Quốc đều nhận thấy một phần lãnh thổ của Việt Nam lên đến hàng trăm ngàn kilomét vuông đã bị sáp nhập môt cách sai lạc vào lãnh thổ của Trung quốc”.

Ông Thi nói: “Chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ đường biên giới phía Bắc từ tỉnh Điện Biên đến tỉnh Quảng Ninh đã bị vẽ sai lạc và lấn sâu vào một phần lãnh thổ của Việt Nam. Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc do Google vẽ cũng làm cho nhiều cổng biên giới, như Tân Thanh, Thanh Thủy, nằm vào trong phần đất Trung Quốc”.

Ông Thi nói rằng đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong những vùng này chạy dọc theo các nhánh sông. Tại thành phố Lào Cai, đường biên giới chạy dọc theo sông Hồng, Nam Thi và Ba Két, trong khi đó đường biên giới gần Mông Cái chạy dọc theo sông Ka Long và Bắc Luân.

Ông Thi cho biết: “Đường biên giới trong vùng này đã không thay đổi từ khi bản đồ được vẽ với sự thỏa thuận của hai nước vào cuối thế kỷ XIX”.

Ông Thi khẳng định rằng: “ Google Maps là một dịch vụ cung cấp bản đồ miễn phí không có giá trị pháp lý, nhưng nếu có sai lạc, bản đồ cũng sẽ gây ra hiểu lầm cho người xử dụng”.

Là những người Việt quan tâm, chúng tôi xin ông vui lòng cho chúng tôi biết từ những nguồn tài liệu nào mà quý cơ quan đã dựa vào để vẽ đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc cho những bản đồ này. Thêm vào đó, xin ông cho chúng tôi biết khi nào Google Maps sẽ sửa lại những sai lạc mà Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu. Xin ông nhớ cho, những sai lạc này tồn tại càng lâu, càng làm tổn hại đến sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Là nạn nhân xâm lược của Trung Quốc trong nhiều ngàn năm qua, người dân Việt Nam chúng tôi rất nhạy cảm với sự trung thực trong việc phân định đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Bản phỏng dịch tiếng Việt của lá thư này sẽ được phổ biến rộng rãi trong và ngoài nước đễ những người dân Việt quan tâm thấu rõ sự trao đổi giữa chúng tôi với ông.

Cám ơn sự lưu tâm cứu xét của ông.

Thay mặt những người Việt quan tâm

Lê Quang Long (NZ), Ngô Khoa Bá (USA), Nguyễn Hùng (Australia)

*********************************

Thư gửi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam

Ngày 25 tháng 03 năm 2010

Kính gởi:

Tổng bí thư Nông Đức Mạnh

Chủ tịch Nhà nước Nguyễn Minh Triết

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Emai: vpcp@chinhphu.vn , webmaster@qh.gov.vn , dangcongsan@cpv.org.vn

Đề mục: Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trên các bản đồ trong Google Maps

Kính thưa Ông Tổng bí thư, Chủ tịch Nhà nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội:

Trong thời gian gần đây, sau việc phản đối Hội Địa dư Hoa Kỳ phổ biến sai lệch bản đồ khu vực quần đảo Hoàng Sa, người dân trong và ngoài nước lại khám phá ra các bản đồ của toàn bộ vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đang phát tán trên trang mạng Google Maps ghi rõ đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc lấn sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Cụ thể nhất là tại thành phố Lào Cai, đường biên giới đã cắt ngang thành phố này và hậu quả là một phần của thành phố trở thành lãnh thổ Trung Quốc.

Đối với Hội Địa dư Quốc gia Hoa Kỳ, người Việt trong và ngoài nước đã lên tiếng chính thức phản đối vì chúng tôi biết chắc chắn quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc chủ quyền của Việt Nam và bị Trung Quốc cưỡng chiếm bằng vũ lực từ năm 1974.

Sự sai lạc của Google Maps với những bản đồ vùng biên giới Việt Nam và Trung Hoa, người Việt trong và ngoài nước không có bằng chứng cụ thể pháp lý nào để có thể căn cứ vào đó phản bác với Google Maps.

Sau khi nhận được tin Chính phủ Việt Nam phản đối với công ty Google qua lời tuyên bố của phát ngôn viên Chính phủ Bà Nguyễn Phương Nga của Bộ Ngoại giao, chúng tôi mới có thể dựa vào đó mà viết thư đến Công ty Google chỉ để bày tỏ nguyện vọng của người dân Việt Nam đối với đường biên giới trên Google Maps. Bản sao lá thư gởi Công ty Google và bản phỏng dich sang tiếng Việt được đính kèm.

Việc thương thảo và ký kết các văn bản thỏa thuận về đường biên giới trên đất liền giữa Đảng và Nhà nước Việt Nam với Trung Quốc đã hoàn tất từ năm 1999. Nhưng cho đến nay, sau hơn 10 năm, chi tiết thỏa thuận về đường biên giới vẫn chưa được Đảng và Nhà nước chính thức phổ biến rộng rãi cho công luận trong và ngoài nước biết.

Trên nguyên tắc chung của tất cả các nước trên thế giới, sau khi việc thương thảo kết thúc, toàn bộ chi tiết các văn kiện phải được Quốc hội cứu xét và thông qua trước khi chính thức ký kết và sau đó Chính phủ có trách nhiêm phải nhanh chóng thông báo và phổ biến cho toàn dân biết sự kiện trọng đại này.

Đảng và Nhà nước Việt Nam cho đến ngày hôm nay vẫn chưa thi hành trách nhiệm thông báo và phổ biến sâu rộng trong nước cho toàn dân rõ và ngoài nước cho thế giới hiểu biết để họ có tài liệu xử dụng. Việc Google Maps phổ biến sai lầm bản đồ vùng biên giới Việt Trung có thể đưa đến sự thiệt hại chủ quyền Việt Nam là hậu quả của sự trì trệ của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Người Việt trong và ngoài nước yêu cầu Đảng và Nhà nước cùng Quốc hội nhanh chóng chỉ thị các cơ quan liên hệ phổ biến rộng rãi cho đại chúng qua phương tiện thông tin báo chí và trang mạng trong nước cũng như hải ngọai, để toàn dân Việt nắm biết chi tiết lãnh thổ quí báu Việt Nam mà tổ tiên chúng ta đã dày công xây dựng hơn bốn ngàn năm và để từ đó có cơ sở pháp lý đấu tranh chống lại mưu đồ của kẻ xấu.

Trân trọng

Thay mặt những người Việt quan tâm

Lê Quang Long, Ngô Khoa Bá, Nguyễn Hùng

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

__________________________________________

GOOGLE MAPS CUNG CẤP BẢN ĐỒ SAI LỆCH THÔNG TIN VỀ LÃNH THỔ VIỆT NAM: SAI HOÀN TOÀN VÀ KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ

Source: TTO

TT - Thông tin Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ đưa bản đồ sai sự thật về quần đảo Hoàng Sa khiến công chúng còn chưa nguôi bức xúc thì trên trang Google Maps lại cung cấp một bản đồ không thể hiện đúng về đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc.


Theo đánh giá của các nhà khoa học, việc vẽ đường biên giới này quá sai lệch và thể hiện sự thiếu trách nhiệm của Google Inc khi vẽ đường biên giới chủ quyền quốc gia của Việt Nam.

Công ty Google Inc, có trụ sở tại Mountain View, California, Hoa Kỳ, mới đây đã cung cấp dịch vụ ứng dụng và công nghệ bản đồ trực tuyến miễn phí tại trang web http://maps.google.com/, trong đó đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã được vẽ với nhiều sai lệch nghiêm trọng.

lãnh thổ Việt Nam bị nằm bên kia biên giới

Trên bản đồ của Google Inc, hàng loạt địa danh trên lãnh thổ Việt Nam với diện tích lên đến hàng ngàn kilômet vuông đã bị vẽ nằm bên biên giới Trung Quốc. Sự sai lệch này kéo dài từ Apachải (tỉnh Điện Biên) cho đến TP Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh).

Một trong những điểm sai nghiêm trọng là đường biên giới đi qua TP Lào Cai. Theo đường biên giới (nét đậm, vạch liền trên ảnh - PV) được thể hiện trên bản đồ, gần một nửa TP Lào Cai bị dịch chuyển sang bên biên giới Trung Quốc gồm toàn bộ chợ Cốc Lếu, cầu Cốc Lếu, các trường Nguyễn Công Hoan, THCS Lê Quý Đôn...


View Larger Map

Tại địa phận tỉnh Lào Cai, đường biên giới thể hiện trên bản đồ của Google đều bị vẽ lấn vào địa phận Việt Nam nhiều kilômetvới toàn bộ phần sông Hồng, từ Lũng Pô đến TP Lào Cai, đều thuộc về phía bên kia biên giới.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, phó bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Sùng Chúng cho rằng đây là một chuyện không thể tin được. Ông cho biết tỉnh Lào Cai mới đây đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới Việt - Trung nên không thể chấp nhận việc có một bản đồ được cung cấp rộng rãi trên thế giới lại sai lệch nghiêm trọng như vậy.


View Larger Map

Trên bản đồ trực tuyến này, hàng loạt cửa khẩu của Việt Nam cũng bị xê dịch. Cụ thể, các cửa khẩu Thanh Thủy (Hà Giang), Tà Lùng, Trà Lĩnh (Cao Bằng), Tân Thanh (Lạng Sơn) đều bị vẽ nằm sâu phía bên kia đường biên giới nhiều kilômet. Đáng chú ý, theo bản đồ này, toàn bộ thác Bản Giốc của Việt Nam đều không còn nằm trong lãnh thổ.


View Larger Map

Phần thác Bản Giốc thuộc địa phận nước ta đã được phân giới cắm mốc lại nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc với chú thích hoàn toàn bằng tiếng Trung Quốc và phiên âm tiếng Anh, khi dịch ra tiếng Việt là thác Đức Thiên. Trên bản đồ này không có bất kỳ chú thích nào về các địa danh trên thuộc chủ quyền lãnh thổ nước ta.


View Larger Map
德天瀑布 - Đức thiên bộc bố - Detian Waterfall - Thác nước Đức Thiên (tức là Thác Bản Giốc)

Ngoài ra còn hàng trăm khu vực và địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam cũng đã bị chia cắt theo bản đồ của Google Inc. Cách thể hiện bản đồ của Google Inc mang đến cho người xem bản đồ cách hiểu những địa danh trên không thuộc về Việt Nam.


View Larger Map

Sai hoàn toàn

Ông Đỗ Viết Thi, phó giám đốc Trung tâm Biên giới và địa giới (Bộ Tài nguyên - môi trường), cho biết đường biên giới được thể hiện trên bản đồ của Google Maps là sai hoàn toàn và không có giá trị pháp lý.

Ngày 18-11-2009, Việt Nam và Trung Quốc đã ký nghị định thư về phân giới cắm mốc biên giới và hai văn kiện gồm hiệp định về quy chế quản lý biên giới và hiệp định về cửa khẩu. Hai bên đang làm các thủ tục để phê chuẩn theo pháp luật của hai bên. Hiện nay bản đồ phân giới cắm mốc hai bên đều đã in và trao cho nhau.

Về đường biên giới phân giới cắm mốc, ông Thi cho biết cơ bản được xác định theo công ước Pháp - Thanh trước đây và chỉ có một vài điều chỉnh nhỏ ở một số khu vực theo thỏa thuận từ năm 1999. Riêng đoạn Lào Cai, từ thượng cổ đến nay, biên giới Lào Cai chủ yếu theo sông, trên bản đồ và các cuốn Atlas của Việt Nam hoặc Trung Quốc đều vẽ như vậy.

Trung tâm Biên giới và địa giới đã kiểm tra và nhận thấy bản đồ của Google Maps có rất nhiều sai lệch. Rõ ràng nhất là sông suối, biên giới giữa tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chủ yếu đi theo sông biên giới gồm sông Lũng Pô, sông Hồng, sông Nậm Thi, sông Ba Kết, sông Xanh, sông Chảy. Các sông này trên ảnh vệ tinh đều có thể nhận biết bằng mắt thường, đặc biệt là sông Hồng.

Nhưng trên Google Maps, hệ thống sông này đều có những đoạn bị vẽ sai. Đáng nói là đường biên giới từ xưa đến nay đều thể hiện giữa sông nhưng trên bản đồ Google Maps lại lấn lên phần đất liền vào sâu lãnh thổ Việt Nam. Tương tự, tại TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, đường biên giới đi theo sông Bắc Luân, sông Ka Long nhưng trên bản đồ Google Maps lại không vẽ theo các con sông này mà lấn vào phần đất liền Việt Nam.

Một điểm sai nghiêm trọng nữa là ngay trên ba lớp hiển thị (lớp bản đồ về đường sá, lớp ảnh vệ tinh, lớp địa hình) của bản đồ do Google Maps cung cấp có nhiều điểm sai lệch với nhau, giữa lớp đường sá thể hiện trong bản đồ so với lớp ảnh vệ tinh cũng có rất nhiều sai sót.

Vẫn theo ông Thi, bản đồ của Google Maps là bản đồ không có giá trị pháp lý vì không có tổ chức, quốc gia nào công nhận hay chịu trách nhiệm về tính chính xác của nó. Tuy nhiên, nguy hại ở chỗ bản đồ này được tung lên mạng nên những sai sót trên bản đồ sẽ dẫn đến hiểu lầm cho người xem bản đồ, nhất là những người không được tiếp cận đầy đủ thông tin về biên giới. Thậm chí có thể đặt câu hỏi Google vẽ bản đồ như thế này có dụng ý gì.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, một lãnh đạo Cục Đo đạc và bản đồ Việt Nam (Bộ Tài nguyên - môi trường) cũng khẳng định bản đồ này có rất nhiều điểm sai, những thông tin cung cấp từ bản đồ này không hề có tính pháp lý.
______________________________________________

Bản đồ Google Maps không có căn cứ pháp lý

Bà Nguyễn Thị Hạ, phó trưởng phòng công nghệ và thẩm định, Cục Đo đạc và bản đồ Việt Nam, khẳng định đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã được thể hiện trên bộ bản đồ quốc gia, được ký kết theo nghị định thư về phân giới cắm mốc biên giới.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bản đồ khi được phát hành trên lãnh thổ Việt Nam, kể cả từ nước ngoài nhập vào, chỉ được công nhận có tính pháp lý khi và chỉ khi đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc chính xác như bản đồ đính kèm trên nghị định thư.

Như vậy, tất cả những đường biên giới thể hiện trên các bản đồ không tuân thủ theo đúng quy định này thì không có tính pháp lý và không được công nhận. Google Maps cung cấp bản đồ với đường biên giới quốc gia như trên mang tính chất trôi nổi vì không có cơ quan nào, quốc gia nào đứng ra nhận trách nhiệm về thông tin thể hiện trên Google Maps.

Mặt khác, cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam chưa có xác nhận tính chính xác và đúng đắn về bản đồ trên, do đó bản đồ này không có tính pháp lý nên không có giá trị pháp lý về biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

MINH QUANG - XUÂN LONG
____________________________________

Về trả lời của Hội địa lý quốc gia Hoa Kỳ: Rõ ràng là chưa thỏa đáng

Ngày 17-3, Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ đã ra thông cáo báo chí trả lời việc Chính phủ và nhân dân Việt Nam yêu cầu hội sửa lỗi sai về thông tin liên quan đến vị trí quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ trực tuyến.

Thông cáo có đoạn viết: “Gần đây chúng tôi nhận được những lời phàn nàn về cách mô tả trên bản đồ thế giới, ở tỉ lệ mà khó cho chúng tôi đưa thông tin chi tiết về quần đảo nhỏ như Paracel Islands. Chúng tôi đã xem xét tình hình một cách cẩn trọng và nhận thấy rằng chỉ đơn giản biểu thị quần đảo bằng tên Trung Quốc và từ “China” mà không giải thích thêm có thể dẫn tới hiểu sai và hiểu nhầm.

Trong tương lai, chúng tôi sẽ giải thích thêm trên các bản đồ khác như mô tả bên trên, hoặc sẽ bỏ đi mọi cách định danh (đối với vị trí này)”.

Kiểm tra chiều 17-3 trên bản đồ thế giới ở địa chỉ http://www.natgeomaps.com/world_decorator_zoomify.html?zoomifyImagePath=assets/files/zoomify/re00622077/re00622077_1_img&zoomifyNavigatorVisible=false, Tuổi Trẻ nhận thấy vẫn còn chữ Xisha Qundao (quần đảo Tây Sa) như tên chính thức của vị trí quần đảo Hoàng Sa, chữ “China” màu đỏ ở bên dưới thể hiện Trung Quốc đang sở hữu vị trí này.

Như vậy, ít ra Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ cũng đã thừa nhận có sai sót và đưa ra hướng sửa sai dù còn nửa vời, thậm chí là cực đoan, khi cho rằng “sẽ bỏ hết mọi định danh (đối với vị trí này)”.

Chúng tôi cho rằng nội dung trả lời này là chưa thỏa đáng. Rõ ràng hội không thể tự bào chữa cho sai sót của mình vừa qua là “chỉ đơn giản biểu thị” và đổ lỗi cho người xem là hiểu nhầm và hiểu sai. Không thể cố biện bạch là chỉ ghi chú theo hiện trạng bởi sự khinh suất, vô tình hay cố ý, của một tổ chức đã có bề dày cả trăm năm đã cho thấy một sự thiếu khách quan khoa học cần thiết, và tự nó không khỏi không bao hàm một thái độ chính trị thiên lệch..

Về hướng sửa sai, chúng tôi cũng cho rằng không thể chuyển từ một cực này sang một cực khác bởi mọi thái cực đều sai với sự thật. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là sự thật không thể chối cãi.

KHỔNG LOAN - ĐÌNH TẤN

"BLACK SWANS" THE ONES TO WATCH FOR


The lesson is to be aware of how easily whole industries can be blown apart. Photo: AP

'Black swans' the ones to watch for
Source: smh.com.au

MATTHEW LYNN
April 26, 2010

The lesson is to be aware of how easily whole industries can be blown apart.

Whether it's banks collapsing or volcanoes erupting, the unexpected can upset the global apple cart.

FOR a generation or more, no one ever gave a second thought to Iceland. Now it has shaken up the world twice in a couple of years.

First, its banks collapsed in the most dramatic illustration of the fragility of our financial system. Now an Icelandic volcano has been spewing ash into the sky, prompting a shutdown, for some time, of European airspace.

The continent was paralysed. Planes were grounded.

Travellers were stuck thousands of kilometres from their families and workplaces. Business, for a time, ground to a halt.

Both happenings are strangely similar. They are, to borrow a phrase from financial theory, "black swan" events: unexpected developments, coming out of nowhere, for which no one has any kind of contingency plan. And they are a warning about the fragility of the modern economy.

The lesson, surely, is to be aware of how easily whole industries can be blown apart. And to make sure we build systems robust enough to survive the worst that can be thrown at them.

The Eyjafjallajokull volcano caused chaos on a massive scale. After the April 14 eruption, more than 80,000 flights were cancelled.

An easing of the cloud of ash, which can cause lethal damage to aircraft engines, meant that European airports could re-open.

But London's usually busy Heathrow Airport remained shut until late last week.

No one really knows how long the volcano will be a threat to the skies. Its last major eruption in 1821 lasted more than a year.

It can teach us useful lessons, if we want to learn them.

First, we are dependent on air travel. Our global economy is kept in motion by fleets of jetliners and a network of airports.

Business revolves around meetings in hotels next to the runways. Documents are ferried around by air. Even the food in grocery stores often lands a day before from another continent.

But air networks are very delicate. They are constantly at the mercy of the weather, mechanical failure, labour strikes and terrorist plots. We should have learnt after the September 11 attacks on New York and Washington not to depend so much on flying. Likewise, we should listen more to the climate-change scientists warning about the impact of global warming. Perhaps the recent chaos will teach us that our economy needs to be more grounded, both metaphorically and literally.

Second, we forget that distance counts. Globalisation has made the world seem a very small place. E-mails ping from continent to continent in the blink of an eye. Social networks allow us to be friends with people thousands of kilometres away as easily as if they lived in the next street. Money flashes from country to country, and ideas and trends zip around the world.

And yet, when the technology breaks down, it is a long way from Helsinki to Madrid, or from New York to Berlin.

Try doing that journey the old-fashioned way - by car, by boat, or on foot - and you suddenly realise the distance between places still counts for a lot.

The world isn't as much of a global village as we think it is. It's still a vast place, and the local can often bite back at the global.

Third, we need to prepare for the unexpected. A couple of years ago, it was the financial system that fell to pieces.

Right now, it is the transport system. In both cases, the cause was something we didn't expect, or make any plans for.

We thought hedge funds might blow up the banks - instead some rather dull-looking mortgages did. We thought terrorists might spread chaos through the airline system - it turned out that ash from an Icelandic volcano did that job.

In reality, "black swans" are everywhere. Much of Europe's energy is now supplied by Russia. Is that really stable in the long term? Much of our food is now genetically modified. What would happen if we suddenly discovered that it was not safe any more?

The euro is a relatively new currency. It has struggled to cope with a few deficit issues in Greece, one of the smallest member states. There must be half a dozen different kinds of crises that could mean the money most of the continent relies on does not work any more.

All sorts of unexpected events are lurking in the shadows.

By definition, we haven't thought about them. It is because they are so unexpected that they are so dangerous. What we can do is think harder about the threats, get better at forecasting them, and find ways of making ourselves less vulnerable.

Air travel is useful. It is the quickest and usually the cheapest way of getting around. But we shouldn't depend on it as much as we do.

We should not rely so completely on any single network, be it financial or technological. That should be obvious. But sometimes it takes something as powerful as a volcanic eruption to make a simple point.

BLOOMBERG

by AI HUU NINH THUAN
04/25/10. 11:33:19 am. 883 words, 380 views. Categories: Văn chương triết lý, Uncategorized, Thế giới ði về ðâu, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,

KHUÔN MẶT "VIỆT KIỀU YÊU VIỆT CỘNG" CẦN ĐƯỢC SỞ THUẾ CHIẾU CỐ


Ông Phạm Văn Thủy (thứ hai từ trái sang) trong buổi trao tặng xe chữa cháy (ảnh do tổng lãnh sự VN tại Houston phổ biến).

Khuôn mặt "Việt Kiều Yêu Việt Cộng" cần được sở thuế chiếu cố

Source: TTO, vietnamnet, take2tango

Chúng tôi yêu cầu quý vị luật sư, quý vị chuyên ngành về thuế khóa trong cộng đồng người Việt quốc gia tại Hoa Kỳ nên điều tra hoặc tìm cách thông tri cho sở thuế liên bang và tiểu bang, và các cơ quan công lực để điều tra chiếu cố đến tên "Việt Kiều yêu Việt cộng này" và các hoạt động thương mại của y. Công ty của y trên danh nghĩa chỉ là một công ty nhỏ (xem các thông tin đính kèm bên dưới), vậy lấy đâu ra tiền để làm những việc rất tốn phí như vậy. Không chừng nguồn tài chánh của y có thể là do rửa tiền hoặc y là một kinh tài cho Việt cộng, dùng tiền do nhà nước Việt cộng cung cấp để thực hiện các mục đích do chúng hoạch định. Tất cả mọi nghi vấn khả dĩ đều có thể đặt ra để mang ra trước luật pháp những kẻ có hành vi bất chính và mờ ám, bất kể họ là ai. Trách nhiệm của chúng ta là phải báo cáo cho chính quyền sở tại các hoạt động mà chúng ta nghi ngờ là phi pháp.

Những bọn lợi dụng danh nghĩa tỵ nạn cộng sản để được định cư tại nước ngoài, nhưng thực chất bọn chúng chỉ là những kẻ ra đi vì lý do kinh tế, muốn sang Tây Mỹ để làm giàu rồi trở lại làm ăn hợp tác với cộng sản, những bọn này là những thành phần cực kỳ nguy hiểm vì chúng nằm vùng phá hoại hình ảnh của những người tỵ nạn chân chính và phá hoại cộng đồng người Việt quốc gia, những nạn nhân đau thương của chế độ cộng sản tàn bạo dã man. Theo định nghĩa "REFUGEE" của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) thì rõ ràng chúng đã man khai và lừa bịp thế giới. Không rõ các nhà luật gia trong cộng đồng người Việt tỵ nạn nghĩ sao về việc này, chúng ta có thể làm được gì để tống cổ bọn chúng về Việt Nam sống vĩnh viễn với bác đảng của chúng... và chờ đợi ngày bị cộng sản "lột truồng" như tên Trần Trường ngu dốt.

KDĐN

Báo Tuổi Trẻ trong số phát hành ngày thứ Năm, 01/04/2010, đã đăng một bản tin có liên quan đến Cộng Ðồng Người Việt Tị Nạn Cộng sản tại Houston Texas dưói tựa đề như sau: Một Việt kiều tặng 20 xe cứu hỏa cho VN.

Nguồn tin từ Tổng lãnh sự quán VN tại Houston ( Texas, Mỹ ) cho biết chiều 29-3, ông Phạm Văn Thủy (Việt kiều) cùng gia đình đã trao tặng cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy VN 20 xe cứu hỏa và đồ cứu hộ.

Có mặt tại buổi lễ, tổng lãnh sự VN tại Houston Lê Dũng đã cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình ông Thủy cho lực lượng phòng cháy chữa cháy của VN. Các xe cứu hỏa, cứu hộ sẽ được chuyển đến lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy của Bộ Công an, Công an TP.HCM và một số tỉnh khác.

Trong dịp này, một công ty của Mỹ có tên Lion Dell đã trao tặng đoàn công tác của Bộ Công an một số thiết bị phòng cháy chữa cháy.

Trước đó, ông Thủy từng tặng xe cứu hỏa cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy của Bộ Công an, Công an TP.HCM, Bình Dương và Ninh Bình (mỗi nơi hai chiếc).

Ông Thủy hiện là tổng giám đốc Công ty Sunrise Plastic có trụ sở tại thành phố Houston. Chi nhánh của công ty tại tỉnh Bình Dương, xí nghiệp Hừng Đông, đã hoạt động 12 năm nay.

(THANH TUẤN).....

Link tới các tin đã đăng về việc này:

Một Việt kiều tặng xe cứu hỏa cho lực lượng PCCC Việt Nam

Một Việt kiều tặng 20 xe cứu hỏa cho VN

Một Việt kiều Mỹ tặng 20 xe cứu hỏa, cứu hộ cho Việt Nam

Overseas Vietnamese presents fire truck to Binh Duong
Source: vietnamnet
16/11/2007

Pham Van Thuy, an overseas Vietnamese from the US on November 16 presented two fire trucks to the southern province of Binh Duong .

Thuy also sent US firemen to help their local peers use the trucks, which have 32-m ladders.

Thuy is CEO of the Sunrise Plastic Enterprise Inc., which invested in Vietnam ’s Hung Dong Plastic Company eight years ago. Hung Dong has a plant in Song Than 2 industrial zone, in Binh Duong province.

***********************************

INFORMATION ABOUT THIS BUSINESS:

Sunrise Plastic Enterprise Inc.
Phone: (281) 458-4772

Owner Name & Mailing Address:

SUNRISE PLASTICS ENT INC
PO BOX 489
PEARLAND TX 77588-0489

Andrew Franco
Operations Coordinator at Sunrise Plastic Enterprise, Inc.
Chemicals | Houston, Texas Area

Vị trí của công ty:
13301 Beaumont Hwy Bldg 16
Houston Texas 77049-1455

Website: http://www.nhuahungdong.com (website này hiện không hoạt động)

Bản đồ hướng dẫn đến trụ sở công ty:


View Larger Map

********************************************

COMPANY OVERVIEW by CORTERA
http://start.cortera.com/company/research/k3s7nsj5l/sunrise-plastic-enterprise-inc/

SUNRISE PLASTIC ENTERPRISE INC is in the Plastics Materials and Basic Forms and Shapes industry in HOUSTON, TX. This company currently has approximately 10 to 20 employees and annual sales of $1,000,000 to $4,999,999.

COMPANY DETAILS

Location Type
Headquarters

Industry
Plastics Materials and Basic Forms and Shapes

Year Founded
1987

Sales Range
$1,000,000 to $4,999,999

Employees
10 to 20

******************************************

COMPANY OVERVIEW by MANTA
http://www.manta.com/c/mm7cwz9/sunrise-plastics

Sunrise Plastics ( Sunrise Plastic Enterprise Inc* )

13301 Beaumont Hwy # 12
Houston, TX 77049-1455(Houston, TX Metro Area)
Phone: (281) 458-4772

Business Categories

Plastics-Products-Retail in Houston, TX
Whol Plastic Materials/Shapes, Store Retailers Not Specified Elsewhere

Sunrise Plastics Business Information

Sunrise Plastics is a private company categorized under Plastics Resins and located in Houston, TX. Current estimates show this company has an annual revenue of $500,000 to $1 million and employs a staff of approximately 1 to 4.

Also Does Business As

Sunrise Plastic Enterprise Inc

HQ, Branch or Single Location

Single Location

Annual Sales (Estimated)
$500,000 to $1 million

D&B: $3,000,000

Employees (Estimated)
1 to 4
D&B: 10

NAICS Code and Description
453998, Store Retailers Not Specified
Elsewhere

by AI HUU NINH THUAN
04/24/10. 08:24:02 pm. 1458 words, 173 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Thông báo (A), Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Hậu trường, Thông báo (A), Liên kết blogs, Thông báo (F) ,

NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH: TRONG TRẮNG

18. TRONG TRẮNG

Source: suyniemloichua

Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

1. Đóa hoa trinh khiết.

* "Phúc cho ai trong trắng vì sẽ được thấy mặt Thiên Chúa." Không phải chỉ có tu sĩ, mà cả người đời cũng phải trong trắng theo đấng bậc mình. Sống trong trắng không phải bị ràng buộc, nhưng cần được tự do hơn (ĐHV 425).

* Bao nhiêu tâm hồn giáo dân trong trắng gương mẫu giữa trần gian. Tâm hồn tận hiến của con phải cảm phục, phấn khởi và vươn cao hơn nữa. (ĐHV 433).

Thánh Nữ Maria Goretti sinh năm 1890 tại miền Pontins, gần bờ biển, cách thành Roma khoảng 25 cây số. Thuở còn nhi nữ, thánh nhân đã là cô gái nhan sắc mặn mà khiến Alexandre, một thanh niên cùng làm việc trong nông trại với ngài, đã dùng lời đường mật dụ dỗ. Thánh nữ cương quyết chống lại và bảo: "Anh Alexandre, đừng, đừng làm thế, Chúa không muốn anh xuống hỏa ngục đâu". Và lần khác, thánh nữ đã nói cách dịu dàng với anh ta: "Không, anh Alexandre, Chúa không muốn chúng ta làm điều đó!" Nhưng chàng trai ấy quá say mê nhan sắc của ngài; vì thế, lúc Goretti mới 13 tuổi đầu, vào ngày 5.7.1902, lợi dụng lúc cả nhà đi làm xa, Alexandre đã dùng võ lực cưỡng bách Goretti. Ngài chống cự mãnh liệt, nhưng vì sức yếu nên cuối cùng phải khuất phục. Và sau đó, vì sợ bị tố cáo, Alexandre đã đâm chết Thánh Nữ. Sáng hôm sau, ngày 6.7.1902, trước khi trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Nettunô, Thánh nữ Goretti đã thều thào: "Vì tình yêu Chúa Kitô, tôi sẵn sàng tha thứ cho anh Alexandre, và muốn anh cũng được vào Thiên đàng với tôi".

Năm Thánh 1950, Đức Piô XII đã phong Thánh cho Maria Goretti trước sự hiện diện của bà mẹ già yêu dấu và bên cạnh bà, có cả... anh Alexandre, lúc ấy đã vào dòng tu!.

2. Đôi mắt xanh của chị nữ tu.

* Có nhiều thiên thần trong trắng mà lại là ma quỷ của ghen ghét. Vô phúc cho cộng đoàn nào gặp loại thiên thần ấy (ĐHV 426).

* Cha đã gặp nhiều người, thuộc nhiều giới, ở nhiều nước khác nhau, sống độc thân hạnh phúc giữa đời. Bí quyết của họ: "Sống cầu nguyện." (ĐHV 435).

* Giá trị của thân xác con: - Mua chuộc bằng Máu Thánh Chúa, - Làm đền thờ Chúa Ba Ngôi, - Sẽ vinh hiển muôn đời. Đừng đem bán “xôn”! (ĐHV 450).

* Xem thường không giữ ngũ quan là mở cửa cho địch vào thành. David thắng Goliath khổng lồ nhưng không thắng được mắt mình (ĐHV 455).

Trên khắp các nước, thế chiến đã bùng nổ. Quân Phátxít chiếm cứ khắp nơi. Một viên tướng Phátxít đến một nhà dòng kia, yêu cầu kêu Mẹ Bề trên cho ông ta gặp. Khi vừa dốc cạn ly nước từ tay Mẹ Bề trên, viên tướng Phátxít lập tức vào đề:

- Xin bà cho tôi gặp chị Maria. Bà Bề trên bấm chuông gọi chị ấy ra. Ông tướng vui vẻ hẳn lên và nói cách sổ sàng: "Tôi yêu cầu bà trao ngay cho tôi chị này, tôi say mê chị". Hai mẹ con nhìn nhau lúng túng; chị Maria vội đỡ lời: "Tôi là một nữ tu tầm thường, nào có gì để ông say mê. Xin ông tìm ở ngoài thế gian, lắm người nhan sắc lộng lẫy... "

- Không! không! Tôi yêu chị vì chị có con mắt xanh tuyệt đẹp. Tôi say mê quá!

- Không! Xin lỗi ông, không bao giờ tôi chấp nhận điều ấy.

- Nếu chị không chấp nhận, nội ngày mai, tôi sẽ ra lệnh tiêu diệt cả nhà dòng này!

Một bầu khí thinh lặng ghê rợn ập xuống phòng khách. Ông tướng đứng lên và bảo: "Tôi cho một đêm suy nghĩ, sáng mai tôi sẽ trở lại. Phải trả lời dứt khoát: nếu không, tôi sẽ..."

Ngày hôm ấy, cả Nhà Dòng thiết tha cầu nguyện sốt sắng hơn. Thâu đêm chị không thể nào chợp mắt: "Chẳng lẽ vì mình mà cả nhà phải bị tiêu diệt? Không, không thể được! Hay tôi phải bỏ Nhà Dòng, bỏ Tình yêu Chúa Kitô, bỏ đức trinh khiết? Không, không bao giờ như thế!"

Sáng hôm sau, khi chị em còn nguyện kinh, ông tướng Phátxít đã có mặt ở phòng khách, đôi mắt hau háu, nôn nóng, sốt ruột.

Từ đầu hành lang, Chị Maria đang tiến lại, nhưng... bên cạnh lại có một người khác dẫn đi, tay chị cầm một cái dĩa. Viên tướng há hốc mồm, trố mắt kinh ngạc. Chị đã bước vào phòng khách, nhưng ông vẫn không ngớt ngẩn ngơ. Chị Maria khuôn mặt đầy máu me, đang sờ soạng đặt cái dĩa trên mặt bàn và nhỏ nhẹ trình bày: "Thưa ông, vì ông say mê cặp mắt của tôi... nên tôi xin sẵn sàng biếu ông cặp mắt ấy... trên dĩa này. Còn thân xác tôi, đời tôi, tôi đã hiến dâng cho Thiên Chúa".

Viên tướng Phátxít vừa bàng hoàng kinh ngạc vừa cảm phục. Ông xấu hổ đứng dậy bỏ ra về và không đá động gì đến nhà dòng nữa.

3. Tội lỗi xông mùi.

* Chúa chỉ ban sự trong trắng cho linh hồn khiêm nhượng. Con hãy cầu xin hàng ngày với tâm hồn đơn sơ chân thành, thực sự nhìn nhận sự yếu đuối của con (ĐHV 427).

* Muốn trong trắng, con phải hy sinh; cành huệ trắng tinh, cành mai thơm tho, cành đào xinh đẹp, vì nó đâm rễ sâu vào lòng đất, vì nó cầm cự với mưa bão, vì nó chịu những bàn tay cắt tỉa (ĐHV 431).

* Nhiều thanh niên cười ngạo nghễ mỉa mai, cho là chuyện hoang đường của thời thượng cổ, nếu ai đề cập đến vấn đề sống trong trắng. Nhưng đến phiên họ, họ chọn người bạn trong trắng, họ đánh ghen, họ tự vẫn khi gặp người bạn đồi trụy (ĐHV 434).

* Bại một trận không phải là thua cả cuộc chiến. Chúa muốn dùng mọi sự để làm nên sự lành, kể cả tội lỗi (ĐHV 457).

Gioan Boscô và Philipphê Nêri là hai vị Thánh sống đời trinh khiết lạ thường. Hai ngài còn có lòng yêu mến giới trẻ cách đặc biệt. Các vị hoà mình với các thanh thiếu niên, vui vẻ nô đùa với họ, ăn uống với họ, cầu nguyện với họ và yêu mến họ.

Với sự hiện diện đầy thương yêu ấy các ngài muốn phải làm sao cho họ không thể phạm tội được. Nhưng tuổi thanh niên nhiều yếu đuối làm sao khỏi vấp ngã. Nên Thiên Chúa đã ban cho các ngài một đặc ân là hễ gặp linh hồn nào còn mắc tội trọng, các ngài liền cảm thấy một mùi thối tha ghê tởm xông lên, khiến các cậu thanh niên không thể giấu giếm với các ngài một tội nào!

Sau kỳ nghỉ hè, thanh thiếu niên lại tựu trường và đang nô đùa vui vẻ giữa sân. Thánh Gioan Boscô đi đến với chúng, tươi cười thăm hỏi... Nhưng hễ đứa nào mắc tội trọng chưa xưng thì phải chạy trốn ngay vì sợ ngài ngửi được mùi hôi thối. Hơn thế nữa, chúng còn phải lấy khăn che mặt lại vì không thể chịu được cặp mắt của thánh nhân. Ngài nhìn ai như thấu suốt cả tâm hồn.

4. Thánh Giêrônimô chống với ma quỉ.

* Người kiêu ngạo trước sau cũng sa ngã nặng. Họ cậy vào sức riêng mình, không dựa vào Chúa (ĐHV 428).

* Ma quỷ có thể đuổi được, thế gian có thể tránh xa được. Xác thịt con mang theo mãi đến chết (ĐHV 430).

* Con đừng bảo: "Nước không dập tắt được lửa!" - Chỉ vì nước ít lửa nhiều thôi (ĐHV 438).

* Xác thịt là đặc công nằm sẵn trong con, sách báo, phim ảnh, bè bạn xấu là những khí giới ngày càng tối tân hơn. Nếu con không hiện đại hóa khí giới của con: cầu nguyện, bí tích, hy sinh..., nếu con không tỉnh thức canh phòng, nếu con không dẹp ngay mọi mầm mống nổi loạn, nếu con nuôi dưỡng đặc công, nếu bỏ các đồng minh là các thánh, là bạn tốt, con sẽ bị tấn công vũ bão và thảm bại (ĐHV 439).

* Không trong trắng, việc tông đồ không bảo đảm: "Kho tàng con ở đâu, lòng con ở đó." (ĐHV 442).

* Thần ô uế chỉ sợ ăn chay và cầu nguyện. Con đã làm chưa? (ĐHV 452).

Thánh Giêrônimô sinh năm 340 tại Stridon miền Dalmitie, nước Nam Tư. Ngài là một Đấng thông minh đạo đức, đã được Đức Thánh Cha Đamasô trao cho sứ mệnh dịch toàn bộ Kinh Thánh sang La ngữ. Bản dịch này vẫn còn dùng trong Phụng vụ Giáo Hội: Đó là bản dịch Phổ thông (Vulgata). Ngài đã sang Thánh Địa, vào trong hang Bêlem để ẩn thân cầu nguyện và phiên dịch Kinh Thánh. Thế mà theo lời ngài thuật lại, có những lúc ma quỷ, xác thịt cám dỗ ngài hết sức nặng nề! Chúng làm ngài nhớ lại những quang cảnh xa hoa trụy lạc, những bạn bè xấu nết dâm đảng ngày trước ở thủ đô Roma. Để chống lại ma quỉ cám dỗ, ngài đã chay kiêng hãm mình và cầm đá đấm vào ngực. Với ơn Chúa và ý chí mình, ngài đã chiến thắng. Đức Bonifaciô VII suy tôn ngài lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh. Ngài mất năm 420.



5. Thánh không ai ngờ.

* Mađalêna đã chỗi dậy và nên thánh, chừng nào con mới quyết định? (ĐHV 437).

* Ăn uống nhậu nhẹt vô độ là mở cửa cho quỷ dâm dục (ĐHV 440).

* Các thánh cũng yếu đuối như con, có vị yếu đuối hơn con nữa, có thế mới có công nghiệp, mới làm thánh. Họ chỉ khác con là họ quyết tâm (ĐHV 448).

* Đừng bao giờ khinh anh em con, nếu đứng vững đến hôm nay là ơn Chúa, xem chừng kẻo ngày mai con ngã nặng hơn! (ĐHV 454).

Với quyết tâm theo Chúa Giêsu, sống cuộc đời như Chúa Giêsu, cha Charles de Foucauld đã sang bên Thánh địa, vào Dòng Khổ tu Xitô, chịu chức linh mục và làm những việc rất hèn hạ trong nhà, để nên giống Chúa. Tuy thế, ngài vẫn chưa thỏa mãn. Sau đó ít lâu, ngài lại xin phép sang Sa mạc Sahara, cư ngụ trong vùng Touareg, để sống cùng thổ dân Berbères, suốt ngày chầu Thánh Thể, viết sách, làm việc bác ái và rao giảng Tin Mừng cho họ. Cuộc sống của ngài là một cuộc sống khó nghèo, trơ trụi và kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể cách kỳ diệu.

Nhưng nếu ngược dòng lịch sử cuộc đời của ngài, ta thấy tuổi thanh niên của ngài thực xa hoa. Vào trường võ bị Saint-Cyr, Charles de Foucauld là một sinh viên rất thông minh nhưng vô kỷ luật. Mê tán gái và thích ăn nhậu. Có hôm anh rủ bạn bè trốn học cùng nhau đi dạo phố. Để cải trang anh mang bộ râu mép giả. Giữa bữa ăn vui vẻ trong tiệm, bỗng bộ râu của Charles rơi xuống! Thật là rủi ro! Ông chủ tiệm sinh nghi bèn gọi báo cảnh sát. Cảnh sát ập tới, kiểm soát giấy tờ thì ố hô..., toàn là những anh sinh viên sĩ quan phạm kỷ luật! Họ chở về trường và cho nghỉ vài hôm trong khám! Tình nhân của Charles thì hàng tá. Vài cô lại có con với anh. Đến lúc ra trường sĩ quan để nhập đoàn thám hiểm sa mạc Sahara, Charles de Foucauld vẫn tỏ ra vô kỷ luật vì thế việc thăng quan tiến chức của anh thật chậm chạp.

Một hôm được ơn Chúa đánh động mạnh mẽ, anh rời bỏ binh nghiệp và dâng mình cho Chúa. Nghe nói thế, cả gia đình chẳng một ai tin, còn phì cười nữa. Thế nhưng, với sự quyết tâm dũng cảm và ơn Chúa dạt dào, Charles Foucauld đã nên một vị thánh thời danh, được nhiều người thời đại ta tôn sùng, yêu mến.

Cũng như Augustinô, Charles de Foucauld thật là một vị thánh không ai ngờ.

6. Lời cầu nguyện của một linh mục.

* Quả tim của con không phải bằng đá. Quả tim của con quý báu vì nó bằng thịt, vì nó biết yêu thương. Hãy can đảm cầm thánh giá cả hai tay và cắm vào đó (ĐHV 445).

* Xác thịt luôn luôn mỏng dòn, dù mặc áo gì, dưới lớp áo vẫn là xác thịt (ĐHV 449).

* Tôi không muốn biết, muốn nhớ quá khứ của anh em tôi. Tôi chỉ muốn biết hiện tại của anh em để thương nhau, để nâng đỡ nhau, và tương lai để tin nhau, để khuyến khích nhau (ĐHV 458).

Cha Michel Quoist là một linh mục thánh thiện đã viết rất nhiều sách báo giúp các linh hồn, trong số đó có cuốn "Prières" mà lắm người quen thuộc. Riêng trong bản Pháp ngữ, tác phẩm ấy đã in tới 350.000 cuốn. Gần đây, nó đã được dịch sang Việt ngữ dưới một nhan đề rất thi vị "Lời kinh thắp sáng cuộc đời".
Bài "Lời cầu nguyện của một linh mục chiều chúa nhật" trong tác phẩm ấy nói lên tất cả tâm hồn ngài, tâm hồn nhiều anh em linh mục, với sự yếu đuối lẫn sự cao cả của một cuộc đời hiến dâng. Có thể nói đây là lời kinh diễn tả một cuộc đấu tranh, một đời quyết chiến:

"Lạy Chúa, chiều nay một mình con trơ trụi. Những tiếng đồng hồ trong nhà thờ lịm tắt dần. Những người đi chầu đi lễ đã ra hết rồi. Và con cũng lủi thủi trở về nhà xứ, một thân một bóng.

"Con đã gặp những kẻ đi dạo chơi về. Con đã đi ngang qua rạp hát vừa lúc đám đông đổ xô ra. Con đi dọc thềm các quán cà-phê ở đó có nhiều người đi dạo, dáng vẻ đã mệt mỏi, đang ngượng ngạo kéo dài cuộc vui của ngày chúa nhật. Con đụng phải những đứa trẻ đang đi chơi trên vỉa hè. Những đứa trẻ, lạy Chúa, những đứa trẻ của người khác, chứ không bao giờ là của con.

"Lạy Chúa, này con đây. Một bóng một thân. Yên lặng làm con ngạt thở. Cô đơn làm con bực nhọc. Lạy Chúa, năm nay con được 35 tuổi... với một thân thể như bao người khác, với những bàn tay chắc chắn để làm việc, với một quả tim được dành để yêu đương. Nhưng con đã hiến dâng tất cả cho Chúa, vì thật ra Chúa đang cần những cái đó. Con đã hiến dâng tất cả cho Chúa...Nhưng Chúa ơi, dâng như vậy thật là đau khổ.

"Thật là đau khổ khi con phải dâng thân xác cho Chúa: vì thân xác đó cũng tận hiến cho một người khác. Thật là đau khổ khi con phải yêu mọi người mà không được giữ lại riêng ai. Thật là đau khổ khi con bắt một bàn tay mà không được muốn cầm giữ lại. Thật là đau khổ khi con vừa gây được một tình cảm, đã phải vội dâng ngay cho Chúa. Thật là đau khổ khi con không cho mình chút nào, mà phải hoàn toàn sống cho tha nhân. Thật là đau khổ khi con phải sống như những người khác, giữa những người khác, mà phải là một người khác. Thật là đau khổ khi con phải luôn luôn ban phát mà không được tìm cách nhận lãnh. Thật là đau khổ khi con phải đến với những người khác mà chẳng hề có một kẻ tìm đến với con. Thật là đau khổ khi con phải đớn đau vì tội lỗi của tha nhân, nhưng lại không có quyền từ chối nhận lãnh và gánh chịu chung. Thật là đau khổ khi con biết những kín nhiệm mà không được thố lộ cho ai. Thật là đau khổ khi suốt đời con phải luôn luôn lôi kéo tha nhân mà không để một ai kéo lôi, dù chỉ trong chốc lát. Thật là đau khổ khi con phải luôn ra tay nâng đỡ những người yếu đuối còn chính mình lại không thể nương tựa vào một kẻ mạnh hơn. Thật là đau khổ vì phải cô đơn, cô đơn trước mọi người, trước cái chết, trước tội lỗi.

***

"Này con, con không cô đơn. Ta đang ở với con. Ta là con. Vì Ta cần một nhân tình thứ hai để tiếp tục mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc. Từ muôn thuở Ta đã chọn con. Ta cần đến con.

"Ta cần đến tay con để tiếp tục chúc phúc. Ta cần đến môi con để tiếp tục rao giảng. Ta cần đến thân con để tiếp tục đau khổ. Ta cần đến tim con để tiếp tục yêu thương. Ta cần đến con để tiếp tục cứu độ. Con ơi, hãy ở lại với Ta.

***

"Lạy Chúa, này con đây. Này thân xác con đây. Này trái tim con đây. Này linh hồn con đây.

"Xin cho con được cao thượng đủ để vượt lên khỏi thế gian. Xin cho con được mạnh mẽ đủ để nâng đỡ thế gian. Xin cho con trong sạch đủ để ôm ấp thế gian vào lòng mà không hề muốn giữ lại nó. Xin cho con trở nên một nơi gặp gỡ tạm thời thôi. Xin cho con trở nên một con đường không dừng lại ở bản thân, bởi vì nó có thể tiếp nhận một ai, chỉ là để dẫn đưa họ về cùng Chúa.

"Lạy Chúa, chiều nay, khi vạn vật đều im tiếng, và khi trái tim con cảm thấy đau nhói vì cô quạnh. Khi ai nấy đang ngấu nghiến tâm hồn con, mà con lại bất lực không thể làm họ thỏa mãn. Khi bao nhiêu khốn nạn về tội lỗi của thế gian là cả một khối nặng đang đè trên vai con. Thì con nói lại với Chúa tiếng "Xin Vâng", không phải một trong tiếng cười vang, nhưng là chầm chậm, khiêm tốn, sáng suốt, một mình trước mặt Chúa, giữa cảnh chiều tà êm ả".

7. Con là đại thánh.

* Một khi đã chỗi dậy, hãy cầm khí giới và quyết liệt tác chiến, ban chiêu hồi của quỷ dâm ô khéo lắm! (ĐHV 456).

Một giáo dân nọ đến xưng tội với Thánh Phanxicô Salêsiô. Anh ta phạm quá nhiều tội trọng nên phải cố gắng hết sức mới xưng đủ mọi tội lỗi. Sau khi lãnh lời tha thứ, ông nói: "Con cám ơn Đức Cha, bây giờ Đức Cha nghĩ thế nào về con?"

- Con là một vị đại thánh, vì hồn con trong trắng và được cả Thiên đàng mến yêu.

8. Một phương pháp hay.

* Ban thông tin của quỷ dâm ô hấp dẫn lắm, luật sư của xác thịt biện hộ ráo riết lắm. Đừng đối thoại với nó, hãy biết sau chốc lát hưởng lạc, con sẽ cảm thấy chán ngấy, cắn rứt và cô đơn: Con đổi thiên đàng lấy hỏa ngục sao? (ĐHV 451).

* Càng sống trong trắng, chí khí càng vững, vì đã được rèn luyện qua nhiều trận anh dũng (ĐHV 459).

Lạy Chúa, con muốn sửa mình lắm, nhưng sửa hoài chẳng được. Cơn cám dỗ mạnh quá. Mạnh hơn con nhiều cha ạ!

Thánh Philipphê Nêri nhìn chàng thanh niên thiện chí và dịu dàng khuyên bảo:

- Hãy can đảm lên, cha đề nghi với con hai điều thôi: mỗi ngày con hãy đọc một kinh "Lạy Nữ Vương" và suy niệm đến cái chết; con hãy cố tưởng tượng xác con nằm dưới lòng đất, đôi mắt thối rữa ra, thân mình thì hôi hám, miệng đầy giòi bọ...Rồi con hãy tự nhủ: vì những thú vui xác thịt mà tôi ra như thế và mất nước Thiên đàng!

Chàng thanh niên nghe lời khuyên của vị Thánh, ngày nào cũng cầu nguyện với Mẹ các kẻ đồng trinh và suy niệm về cái chết. Với sức phấn đấu và ơn Chúa, chàng giữ được lòng trong trắng cho đến hơi thở cuối cùng.

9. Vấn đề độc thân của các linh mục.

Nhiều lần chúng tôi đã nghe đề cập đến vấn đề sống độc thân của các linh mục. Đối với giáo dân Việt Nam và đại đa số giáo dân trên thế giới thì đó là điều được mọi người tự nhiên chấp nhận và đòi hỏi: Người tận hiến cho Chúa thì phải dâng tất cả cuộc đời để làm chứng nhân tình yêu vô hạn của Chúa, và để đủ điều kiện phục vụ dân Chúa cách tích cực, hữu hiệu hơn.

Trước tiên cần xác định như sau: Sống độc thân không chỉ có giá trị thuần siêu nhiên, mà cả trong địa hạt nhân bản nữa. Người sống độc thân không trực tiếp nhằm đến việc từ chối hôn nhân, nhưng coi độc thân là điều kiện để quy hướng con tim về một đích điểm khác hẳn một thiếu nữ, tức là Nước Thiên Chúa. Họ tìm thực hiện bản ngã, và điều ấy làm họ vui sướng, thỏa mãn con tim trong Chúa Kitô. Một thái độ rất "người" với một nguyên do siêu việt! Khi nói rằng đời độc thân thánh hiến là dấu chỉ cuộc sống vĩnh cửu, điều ấy không ám chỉ đến một sự trốn thoát cuộc sống hiện tại. Vì cuộc sống vĩnh cửu, chính là Nước Thiên Chúa, là sự hiện diện của hồng ân Thiên Chúa ngay trong đời sống hiện tại, một sự hiện diện thúc đẩy con người mong ước hiến trọn tình yêu.

Độc thân và hôn nhân là hai tiếng gọi, hai ngã đường khác nhau để thực hiện lời mời gọi của Chúa Kitô: "Hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Đấng hoàn hảo". Nhưng sở dĩ truyền thống vẫn cho bậc độc thân thánh hiến là cao trổi hơn bậc sống đôi bạn, là vì truyền thống không xét đến phương diện cá nhân: mỗi người đều hoàn hảo nếu thi hành trọn vẹn thánh ý Chúa Kitô, nhưng xét đến bình diện thực hiện cuộc sống vĩnh cửu, mà cuộc sống vĩnh cửu giá trị hơn cuộc sống trần gian rất mực. Do đó sứ mạng của đời sống độc thân là ôm trọn đời sống vĩnh cửu và đem tỏ lộ cho trần gian.

Đời sống độc thân có ý nghĩa và sứ mệnh tuyệt vời như thế, nhưng cũng không thiếu những tranh luận, chống đối xảy ra trong lòng Hội Thánh, nhất là trong thời đại hậu Công đồng Vatican II và sau ngày Thông điệp "Sacerdotalis coelibatus" của Đức Phao lô VI (24.6.1967) ra mắt. Nhiều linh mục đã bỏ ra đi. Nhiều giáo dân lên tiếng đề nghị: "Cứ làm như bên giáo hội Tin lành và giáo hội Chính thống: chấp nhận cho Mục sư và linh mục của họ được tự do sống độc thân hay lập gia đình. Như thế có phải là đơn giản hơn không!"

Thay vì tranh biện với kiểu luận lý sơ sài như trên, ta hãy nghe đôi lời tâm sự của các bậc có uy tín trong vấn đề độc thân nói lên kinh nghiệm của họ.

Mục sư Jungmann nói: "Qúy vị đừng có chỉ nghĩ Giáo Hội Công giáo của quý vị gặp khủng hoảng. Bên Tin lành chúng tôi còn gặp khủng hoảng hơn bên quý vị rất nhiều!"

Trong một cuộc họp mặt giữa các Linh mục Công giáo và các Mục sư Tin lành, một Mục sư đã nói cảm tưởng của mình về đời sống độc thân như sau: "Tôi bắt đầu hiểu giá trị đời sống độc thân trong Giáo Hội Công giáo. Tôi cảm thấy các cha là anh em với nhau và tạo nên một gia đình thực sự. Chúng tôi không thể nói như thế đối với chúng tôi... Nếu một Mục sư nào đó thành công, tôi không sung sướng gì, nếu một Mục sư nào đó đau khổ, tôi không đau khổ với họ... Giữa chúng tôi không có bầu khí gia đình, họa chăng chỉ có giữa vợ chồng chúng tôi thôi!"

Dịp Thượng Hội Đồng Giám mục năm 1971, trong đó hai vấn đề chính là thừa tác vụ của linh mục và công bình trên thế giới, Đức Tổng Giám mục Công giáo ở Beyrouth (Liban) đã tâm sự những lời sau đây: "Các Đức Cha hãy cố giữ lấy kho tàng quý báu của Giáo Hội La tinh, tức là luật độc thân linh mục. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm nhiều trong vấn đề này, vì giáo phận tôi, giáo phận theo nghi thức Đông phương, có những linh mục độc thân và những linh mục lập gia đình. Lắm vấn đề phức tạp mà quý vị không thể tưởng tượng được!"

Các giáo phận Công giáo chúng tôi, cũng như bên Chính thống, luôn luôn ở Toà Giám mục mấy cha độc thân để dự phòng sau này làm Giám mục kế vị chúng tôi, vì Giáo luật đòi buộc các Giám mục phải độc thân, không có gia đình.

Lại còn phức tạp do luật buộc linh mục chỉ được kết hôn một lần trước khi chịu chức thánh; có những trường hợp linh mục mới 30 tuổi, 35 tuổi mà đã goá vợ, tay bồng tay bế, lũ con nheo nhóc không ai nuôi dưỡng. Thực là nan giải!

Đối với các giáo phận có một linh mục qua đời để lại một gia đình neo đơn, con thơ vợ dại thì thực là một gánh nặng tài chánh rắc rối. Bên Giáo Hội La tinh, một linh mục chết rồi chẳng phải giải quyết gì cho gia đình cả!

Trong lãnh vực mục vụ càng phức tạp hơn: mặc dù tập quán linh mục đã có từ xưa truyền lại, giáo dân vẫn quí mến linh mục độc thân hơn: các ngài có ở xa hoặc đi đến đâu, họ cũng tìm cách gặp gỡ để xin lễ, xưng tội.

Linh mục có gia đình chỉ phục vụ trọn vẹn trong ngày chúa nhật, còn những ngày khác thì đi làm ăn để chu cấp cho gia đình. Như thế làm sao tiếp xúc được với đồng đạo giáo dân?

Thuyên chuyển một linh mục có gia đình thật là một vấn đề khó khăn. Được lệnh ông sẽ bảo: con sẵn sàng đi nhưng nhà con đang mắc làm việc ở công sở kia, các cháu lại đang theo học ở trường nọ, gia đình con không nhất trí đến địa phương ấy!" - Lắm lúc vị linh mục ấy thì tốt, nhưng bà vợ hoặc con cái chưa nói là xấu, chỉ nói là giáo dân không có thiện cảm, thì cũng đủ để họ ghét luôn ông linh mục, rồi dần xa việc đạo; trường hợp xảy ra sự thù hằn thì họ mất đức tin luôn! Mà nếu thuyên chuyển vị linh mục ấy không được thì cha truyền con nối, tiếp tục giữ nhà xứ thế hệ này sang thế hệ khác, làm sao giáo xứ phải chịu sự áp bức của một gia đình, nên đời sống đạo hạnh sa sút không thể tưởng.

30-04-1975: MÁU VÀ NƯỚC MẮT - NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA? - BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!


Dương Văn Minh - Thích Đôn Hậu - Thích Trí Quang

Thảm sát Mậu Thân...

... đầu hàng Việt cộng...

... thư đầu hàng của Dương văn Minh...

... Việt cộng ngơ ngáo vào chiếm Dinh Độc Lập

... người di tản trên mẫu hạm Midway...

30-04-1975: Máu và Nước Mắt
Source: congdongnguoiviet.fr

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
2010/04/20



Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30-04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.

Ngày 29/03/1975. Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có «công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất (Ấn Quang)» đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng.

Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.

Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.

Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.

Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:

Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của «Mặt trận Giải phóng miền Nam » tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).

Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng! ».

Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi « cành lá ngụy trang ». Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một « ông hoà giải » và một « vị sư » mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.


Đại đức Thích Minh Tuấn

Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị « An ninh Phật giáo » bắt giam ở các « chùa », nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu « Thượng tọa » Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai « thầy » bước xuống đó là « Đại đức » Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là Thượng tọa-Thị giả của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và « Đại đức » Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp theo là hai « ông hòa giải » quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai «thầy ». Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.

Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:

"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố, mọi việc đều tốt".

Tiếp theo, Thích Như ký nói:

"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn".

Thượng tướng Lê Quang Hòa (tên thật Lê Thành Kim, 1914-1993), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thanh tra Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 1, Chính ủy Cánh quân Duyên hải rồi cánh quân Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

« Thượng tọa » Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai « thầy », nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: "Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản". Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy. »

Quay sang hai « thầy » Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chon rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại".

Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.

Sau đó, "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo" đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo! »

Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các « chùa » đồng loạt treo cờ «Mặt trận giải phóng » cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

Ngoài ra, để lập công với « cách mạng » Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: « Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng ». Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:

« Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ».

Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:

Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy. »

Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là « Trung úy », mục đích để được « trả lại »… cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!


Tái hiện sự tích Đức Phật đản sinh tại chùa Pháp Lâm (Đà Nẵng).

Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.

Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là « tài sản của đảng Cần Lao » và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, Nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.

Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là « tài sản của Cần Lao » nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.

Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.

Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, « Bí thư đảng Cần Lao miền Trung ». Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác

Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chon cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:

"Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:

Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:

Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống".

Ông Trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:

"Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống".

Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:

"Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ".

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.

Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám "Thanh niên Phật tử" có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:

"Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử".

Nói là "mời" Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.

Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.

Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội "An ninh Phật tử" còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là "Ủy ban Áp giải".

Ngày 03-04-1975, khoảng 21 giờ tối, Nguyễn Chon, tướng VC. Đến nhận ông Dân tại nhà giam Kho Đạn. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác chết của ông Dân đã chết, xác được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân ĐN, trên thân thể của ông có nhiều vết đạn.

Chúng tôi xin nhắc lại. Năm 1962, ông Dân là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, thì Nguyễn Chơn là Trung đoàn phó. Sau khi ông Dân bỏ đơn vị trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, thì Nguyễn Chơn đã thay thế ông Trần Quốc Dân làm Trung đoàn trưởng. Đến 1975, Nguyễn Chơn lên tướng. Như vậy, cho chúng ta thấy, một mặt Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem giam trong chùa Pháp Lâm. Mặt khác ra lệnh cho Thích Minh Tuấn đem xe ra tận đèo Phú Gia để rước Sư đoàn Sao Vàng của Nguyễn Chơn (tướng VC), rồi sau đó giao ông Dân cho Nguyễn Chơn xử bắn, theo chỉ thị của VC một cách rõ ràng không thể chối cãi.

Sau khi ông Dân chết, bọn "An ninh Phật tử" đã hướng dẫn VC, xông vào nhà ông Trần Quốc Dân dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà, mà chúng nói là "Nhà của Diệm".

Vợ ông Dân chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt các con ông bà về nương tựa với gia đinh tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.

Những người đã chết dưới bàn tay tàn bạo của "Lực luợng An ninh Phật giáo Ấn Quang":

Tối 29-03-1975, Đội "An ninh Phật giáo" đã bắn chết bảy người tại quận 3 Đà Nẵng. Trong số này chúng tôi biết mặt, biết tên bốn người, đó là các ông:

1- Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".

2- Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2 Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Khu đảng bộ Yên Bái.

3- Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cu 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cả hai vị nói trên đều trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.

4- Riêng ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là nhân viên phòng 2, Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".

Lúc "Lực luợng An Ninh Phật giáo đến nhà, vợ ông Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt ông Cang là một tên đã bắn xả vào người ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà, trước sự kinh hoàng của vợ con; bà Cang ngất xỉu, các con ông gào thét lên kêu cứu, còn "Đội An Ninh Phật Giáo lạnh lùng bỏ đi ra!!!

Cùng bị bắn với bốn vị kể trên, còn có ba người nữa. Tôi nhớ một người tên Mua, một người tôi quên tên cả hai người này đều là người An Hải Đông, quận 3 Đà Nẵng, là Cán bộ Liên hiệp Nghiệp đoàn lao công, đảng viên Đảng Công Nông do Chủ tịch Trung ương Trần Quốc Bửu lãnh đạo; và một người khác là nhân viên Cảnh sát, người Quảng Trị (chúng tôi cũng quên tên) đã bị bắn chết ngay trước Trại Ngô Quyền, An Hải Bắc, quận 3. Sau khi chết được đồng bào chôn cất ngay tại chỗ. Cho đến trước ngày vượt biển chúng tôi vẫn còn thấy nấm mộ của người này tại đó, đồng bào vẫn thường đến thắp hương cho nấm mộ vô chủ này. Không biết bây giờ có dời đi nơi khác hay không?

Ngoài ra, vào buổi chiều 29-03-1975, khoảng 19 giờ, vì không lên tầu di tản được, tôi trở về nhà, khi xe tôi chạy đến ngã ba Huế, bỗng thấy một đám đông vây quanh trước một căn nhà ở góc phía trái thuộc phuờng An Khê, quận 2, Đà Nẵng làm kẹt xe. Tôi phải dừng lại, trước mặt tôi là một lũ "An ninh Phật giáo" Đang đằng đằng sát khí trực chỉ vào một căn nhà khá khang trang, đang đóng cửa, bọn này la hét:

"Tất cả mọi người ở trong nhà phải đều ra ngoài hết, nếu không thì chúng tao sẽ đốt nhà".

Sau một hồi lâu không thấy động tĩnh; tôi nhận thấy trên khuôn mặt của đồng bào ai cũng đều lo sợ. Có lẽ ở gần nhà nên họ biết về những người trong nhà này. Trong lúc đồng bào đang lo lắng, thì bỗng có hai người đàn ông khoảng chưa tới ba mươi tuổi đã mở cánh cửa ở bên hông trái của căn nhà bước ra. Nhưng thật bất ngờ là khi hai người này vừa bước xuống chưa hết bậc tam cấp; thì bọn "An Ninh Phật Tử" liền nổ súng bắn xả vào hai người này. Cả hai vị đều gục chết trên vũng máu, thân thể nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới của bậc tam cấp nơi thềm nhà của họ. Thấy vậy, tôi mới hỏi thăm đồng bào ở đó và tôi được biết: hai vị đó là hai anh em ruột và đều là nhân viên Cảnh Sát.

Trước cái chết của hai vị này, đồng bào đã khiếp đảm vội giải tán ngay, ai về nhà nấy, tôi cũng phải rời hiện trường lập tức. Nhưng cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn không bao giờ quên được hình ảnh của hai vị cũng như căn nhà của họ, tôi vẫn tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại quê hương để tìm cho ra tên họ của những người đã chết một cách tức tuởi và oan uổng dưới bàn tay tàn ác của Phật giáo Ấn Quang; bởi tôi không muốn tên tuổi của họ sẽ bị đi vào quên lãng.

« Ủy ban lãnh đạo Lực luợng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng »

Người đứng đầu cái Ủy ban nầy là La Thành Tỵ, một tên tàn ác đã từng ra tay sát hại đồng bào trong cuộc tấn công phường Thanh Bồ - Đức Lợi, làm Chủ tịch LLHHHG Thị bộ, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, Chánh Đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng.

Chúng tôi vẫn nhớ, bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng. Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sài Gòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện. »

Đối với Quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến « chùa » để trình diện.

Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị La Thành Tỵ, một trong những tên sát thủ trong cuộc tấn công hai Phường Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-8-1964. Lúc này là Chủ tịch LLHHHG thị bộ Đà Nẵng, cùng lũ lâu la trong cái thị bộ này, lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều:

« Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sĩ quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu".

Vậy là các vị sĩ quan này phải về đi tìm súng, Nhưng súng còn đâu nữa mà tìm, bởi lúc hỗn loạn xảy ra, La Thành Tỵ đã ra lệnh cho thanh niên Phật tử phải đi thu nhặt hết đem về chất trước sân chùa. Nhưng có vị đã đi đến những hang cùng, ngõ hẻm tìm được súng, có vị tìm được cả chục khẩu súng như M.16, R.15... vác lên chùa. Trong số đó, tôi biết có một người là Thiếu Tá Đỗ Công Hào, Thuộc Tiểu đoàn 10, Chiến Tranh Chính Trị, cũng ôm một bó súng, ông yên tâm đem vào chùa; Nhưng không ngờ khi nộp súng ông lại càng bị La Thành Tỵ la hét càng to hơn nữa:

" Các anh có đem hàng trăm súng dài cũng không được, vì Sĩ quan thì phải giao nộp súng ngắn, các anh phải nộp súng ngay, không thì đừng có trách".

Đến nuớc này, thì các vị không có "súng ngắn" chỉ còn có một cách là về nhà đem tiền lên chùa để đưa cho "Lực Luợng An Ninh phật Giáo" đám này hễ ai có tiền thì chúng lấy những cây "súng ngắn" trong cái đống súng ở trước sân chùa trao cho, để nộp và để đổi lấy cái "Giấy chứng nhận trình diện" của "Thị Bộ Hòa Hợp-Hòa Giải". Thiếu tá Đỗ Công Hào cũng phải đem tiền mua súng. Sau đó, ông đã phải vào nhà tù "cải tạo" T.154, đến gần mười năm sau khi đã bị què một chân mới được ra tù. Và bây giờ, dù đã trải qua những năm dài bị hành hạ, đọa đày, nhưng Thiếu tá Đỗ Công Hào vẫn còn giữ nguyên được cái cây... súng ngắn. Chẳng biết bây giờ bọn Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo có còn muốn đòi Thiếu tá Đỗ Công Hào phải trình ra cái cây... súng ngắn nữa không???

Việt Cộng trả công cho "Lực luợng Hòa hợp Hòa giải Phật giáo Ấn Quang"

Trở lại với cái gọi là LLHHHG, sau khi Quân, cán, chính VNCH đã giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi; Lực luợng Hòa hợp - Hòa giải đã đến Tòa Thị Chính mời "Ủy ban Quân quản" đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Đại tá Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân « chùa » dằn từng tiếng:

« Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!!!".

Bấy giờ đến luợt « Ban lãnh đạo hòa giải » lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân « chùa » thì … không tiện.

Sau đó « Ủy ban quân quản » ra lệnh như sau:

“- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.
- Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.
- Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long”.

Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của « Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo » nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của "Ủy ban quân quản", có người xuất trình giấy chứng nhận của « LLHHHG » thì bọn an ninh nói:

« Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị".

Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, Nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!!!

Bây giờ đến lượt « cách mạng thưởng công » cho « Lực luợng hòa giải:

Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong « Mặt trận tổ quốc » hiện nay La Thành Tỵ là « Trưởng ban hướng dẫn gia đình Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng ».

" Chính quyền Phật Giáo ":

Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những « ông » hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay « các ông » hòa giải gọi là « đồng chí ». Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm « Hòa giải Phật giáo » bị mất mặt trước dân chúng, nên « Chính quyền Hòa giải » nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều ( như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phường, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.

Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít-tinh tại Đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức đã giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu như sau:

« Sở dĩ có cuộc mét-tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ do Phật giáo tổ chức ra để lừa bịp với chế độ Sài Gòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo Ấn Quang đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ- ngụy. Nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phường, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý Công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trễ chúng tôi sẽ có biện pháp… ».

Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét:

« Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nuớc, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm …cầm … cầm… »

Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cười lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại:

« O … cầm … cầm … cầm …cái gì cũng được nhưng không được cầm quyền".

Thích Đôn Hậu bắt buộc đồng bào phải đi diễn hành mừng sinh nhật Hồ Chí Minh:


Chùa Phổ Đà, 340 Phan Chu Trinh, Đà Nẵng

Ngày 18/05/1975, Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội Quảng Nam - Đà Nẵng và Thị bộ Hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng đã ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về « chùa » Phổ Đà « để bắt đầu cuộc diễn hành chào mừng chiến thắng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc ». "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải " đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang… phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đem xuống thì thắp sáng lên cho nó ra vẻ « phấn khởi hồ hởi » và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những « ông » hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô:

« Hoan hô bộ đội giải phóng miền nam anh hùng.»

thì đồng bào phải hô lớn « hoan hô… hoan hô… » còn khi mấy « ông » hô:

« Đả Đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nuớc », thì đồng bào phải hô « đả đảo…đả đảo… »

Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng « hoan hô » và « đả đảo » mà thôi. Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn một giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô « hoan hô…đả đảo… » Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi … cười một mình.

Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các «ông» hòa giải hành hạ đang đi qua nhà, tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cuời, khi nghe mấy «ông» hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới:

«Bà con ơi! ai rớt gói cơm?»

thì có tiếng của đồng bào đáp trả:

« hoan hô... hoan hô… »

Nghe vậy mấy « ông » hòa giải lại la lớn:

« Bà con ơi! gói cơm ai rớt? »

Đồng bào lại hô

« đả đảo … đả đảo …».

Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cứ mắt nhắm, mắt mở cũng chỉ biết có

« hoan hô »

với

« đả đảo » cái... gói cơm.

Cuối cùng, các « ông Hòa giải» tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét:

«Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai…làm…rớt…gói…cơm…thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài…vậy hả? »

Lúc đó đồng bào mới biết là có « sự cố ».

Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người phải cầm đèn gió đi diễn hành. Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có « hệ thống » trước khi diễn hành đến « chùa » Pháp Lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh kêu gọi:

" Yêu cầu tất cả đồng bào hãy tập trung về tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần, để bắt đầu cuộc diễn hành trên khắp thành phố suốt đêm để mừng cách mạng chiến thắng, cho đến sáng ngày 19-05, trước khi đến chùa Pháp Lâm tại số 500, đường Ông Ích Khiêm để mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch vĩ đại"

Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện kể trên, tôi nghĩ chờ Trời sáng sẽ xuống chùa Pháp Lâm xem thử mọi việc ra sao.

Khi đến « chùa » Pháp Lâm, tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến « Thượng tọa » Thích Đôn Hậu ngỏ lời nói:

"Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ ».

Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một « cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào » khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ.


Giáo sư Hoàng Châu Ký, sinh năm 1921 tại xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình khá giả. Ông tham gia cách mạng ngay từ năm 16 tuổi, từ trần ngày 31 tháng 1 năm 2008 tại Đà Nẵng, hưởng thọ 87 tuổi.

Hoàng Châu Ký đã ngỏ lời khen ngợi có đoạn như sau:

« … Quý Thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực luợng hòa hợp hòa giải, là những người đã có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ- ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ-Ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành. Ngoài ra, cách mạng sẽ giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất, để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.

Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư … Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học … Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)… thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do… tự do... ».

Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, Nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những « vị trí thức » này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ… tự do!!!

Trong lúc y còn nói chuyện, nhưng chúng tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.

"Trại Cải Tạo T.154":

Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi đã bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC đã cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho « khánh thành » và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành "Trại cải tạo T.154", để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra trại trước mười năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.

Sau đó, khi đưa tất cả các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã trình diện tại « chùa » Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 ( hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là « Cán bộ trực trại » điểm danh xong rồi khóa cửa lại. Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08 cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp dưỡng ( nhà bếp) một trạm xá.

Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Son, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi). Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ). Rồi thay vì đưa ra Bắc; vào đêm 03-05-1979, các vị này đã bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ) trong một đêm khuya tối Trời. Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài:

- Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng,
- Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng,
- Linh mục Nguyễn Đình Ánh.

Riêng Linh Mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.

Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù « vi phạm nội quy » thì công an trại nữ lại "Lập biên bản" để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Ví thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại nam - nữ tù đều biết tất cả.

Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, « tuy xa mà gần, tuy gần mà xa » chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn trại mỗi khi trong trại có nhiều người « vi phạm nội quy » hoặc xem văn nghệ vào dịp Tết, hay ngày 2/09, « nghệ sĩ » là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.

Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp!!! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chước « Tự quản » (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 ( Đồng Mộ ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải « đạt » 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải "đạt chỉ tiêu". Nói tóm lại làm việc gì cũng phải « đạt chỉ tiêu » hết.

Nhưng không phải « đạt chỉ tiêu » rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải «làm tranh thủ» hái đậu phụng (lạc) cũng «chỉ tiêu» cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao động khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải «tranh thủ» làm cỏ mía... Thôi thì đủ thứ «tranh thủ» không làm sao kể hết.

Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; Nhưng vẫn "không đạt chỉ tiêu". Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!!!

Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả.



Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái « may mắn » là « được » chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:

- Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị « kỷ luật » cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, Nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho « trật tự » trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trễ, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông đã lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.

- Đại úy Nguyễn Phượng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!!!

- Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cùng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ đã lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho « trật tự » trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho « trật tự » trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!!!

- Chúng tôi cũng đã chứng kiến tại "Đồng Cừ", hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh đến ngã ngụy xuống mặt đất trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại "Đồng Cừ", cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để giấu đi những dòng nước mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kính, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn để nấu ăn cho chúng. Vả lại, chúng biết rõ là anh Nguyễn Văn Đức không có ý đầu độc chúng, Nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.

- Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin Linh mục Vũ Dần, Linh Mục Đặng Đình Canh, Linh Mục Nguyễn Đình Ánh, Linh Mục Tống Kiên Hùng, truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam, ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.

Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.

- Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình… Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, nhưng ông không thể ung dung để hưởng những ưu đãi của Việt cộng, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!!!

- Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 06 h 30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn « cơm » xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để « tâm sự ». Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam « trật tự » khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một « cán bộ » nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính « cán bộ » ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép « cán bộ trực trại » để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho « cán bộ trực trại ».

Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn Thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là « cán bộ y tế ». Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đình nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có « cán bộ » Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói... Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức. Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, « cán bộ » Yên bảo tôi chạy ngay về trại, không được nhìn cái gì cả, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà «Phó giám thị » Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra!!! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn « trật tự » và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, Nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, « cán bộ trực trại » tên Trịnh Thị Thư vợ của « giám thị » Huỳnh văn Hưng người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: « Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết ». Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai đi lao động.

Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nuớc, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.

Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng như lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.

Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vuợt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy, đó là trường hợp của gia đình Giáo Sư Thượng Nghị Sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phuờng Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đã tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng!!! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù!!! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn đau của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù "cải tạo"!!!

Những năm dài ở trong lao lý, Giáo Sư Bùi Văn Giải đã từng bị đưa vào nhà "Biệt giam 2.79" tức Đồng Mộ và nhà "Biệt giam Nhà Trắng" cùng với nhiều vị sĩ quan cao cấp và các vị cán bộ lãnh đạo cao cấp của các chính đảng. Khi bị bệnh nặng Giáo sư Bùi Văn Giải phải vào bệnh xá Trại 1 (trại chính), khi xuất viện ông lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, thời gian này tôi vẫn thường thấy ông với mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.

Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì « nhân đạo » nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nuớng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của Giáo Sư Bùi Văn Giải phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nuớc!!!

Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thu con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nuớc mắt của cha mẹ mình đã tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland, Hoa Kỳ.

Tạm thay lời kết:

Khi viết đến những dòng này, tôi bỗng thấy có hơi buồn; bởi chúng tôi biết có rất nhiều người đã biết, đã thấy những hành vi tàn ác của Phật Giáo Ấn Quang trong suốt bao nhiêu năm qua. Song cho đến giờ này cũng chỉ thấy xuất hiện một số ít bài viết về các biến cố như: Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-08-1964- Cuộc Bạo Loạn tại miền Trung, mùa hè 1966, Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, 1968 và về ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội: 30-04-1975. Nhưng, tất cả họ đã vì một lẽ nào đó, nên đều tránh né, không muốn hay không dám viết hết những sự thật. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể bởi bị ám ảnh với những hình ảnh giết người của Ấn Quang nên họ sợ đụng chạm, hoặc vì đang đứng ở vào một tổ chức nào đó mà phải cần đến Ấn Quang; và còn một lý do khác nữa là họ sợ một ngày nào đó phải cần đến lá phiếu của Ấn Quang. Riêng kẻ viết bài này là một người không hề có tham vọng về chính trị, nên dù bất kể một thế lực nào cầm quyền tại Việt Nam, kẻ này cũng không màng đến một địa vị, chức tước gì cả. Vì thế, nên không bao giờ cần đến bất cứ một lá phiếu nào; mà điều duy nhất của người viết những loạt bài này là đã tâm nguyện: Suốt đời chỉ làm một người cầm bút, để viết lên tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó. Viết với tất cả tâm thành để cho lớp trẻ sau này còn biết đến những hành vi tàn ác, bất nhân của những kẻ đã từng gieo rắc tang thương, máu lệ cho đồng bào vô tội; hầu cho họ biết đường mà tránh xa phường lục lâm, tặc phỉ, để khỏi rơi xuống hố sâu của tội ác. Bởi đó, chính là lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

************************************************


Nhà thờ Thánh Tử Đạo tại Phoenix, Arizona

NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA?

Source: RVNAF 2010/04/23

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị triệt hạ tại buổi Lễ Khánh Thành Thánh Đường Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Phoenix ngày 18.04.2010



Ngày 11 tháng 4, 2010, linh mục Nguyễn Trường Luân và ban tổ chức Đại Hội Suy Tôn Lòng Thương Xót Chúa tại Đại Học Cal State Long Beach đã dùng lực lượng cảnh sát và an ninh hộ tống Hồng Y Phạm Minh Mẫn vào nơi hành lễ cũng như cho nhân viên an ninh chìm, nổi kiểm soát gắt gao giáo dân đến dự lễ.

Một tuần sau, không kém phần sỉ nhục, sáng chúa nhật ngày 18 tháng 4, 2010 linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã dùng tất cả biện pháp an ninh để ngăn chận cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong dịp khánh thành nhà thờ.



Từ ngã tư đến cửa nhà thờ, khoảng 20 "quần chúng tự phát" được linh mục Thuận tổ chức thành nhân viên an ninh nội chính với đồng phục áo tím dàn hàng "đón" quan khách và ngăn chặn cờ Vàng của giáo dân mang theo mừng lễ. Cũng may Hoa Kỳ là một đất nước có luật pháp nên "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục Nguyễn Thuận chỉ tịch thu cờ Vàng, hình Đức Giáo Hoàng Cổ Quàng Cờ Vàng của giáo dân chứ không đến nỗi sử dụng "bạo lực cách mạng" như "quần chúng tự phát áo xanh" đã man rợ tấn công giáo dân cầu nguyện cho công lý và sự thật trước tòa Khâm Sứ tại Hà Nội.

Ngay cửa nhà thờ 4 cảnh sát Mỹ mặc sắc phục trấn giữ và cảnh sát chìm đứng vòng trong có nhiệm vụ được giao phó từ linh mục Thuận: dẹp bỏ, tịch thu cờ Vàng.



Trước ngày khánh thành lm Nguyễn Thuận đã dằn mặt giáo dân:“ cờ Mỹ tôi cũng cấm chứ nói gì cờ Vàng!“ khi giáo dân yêu cầu với linh mục cho phép rước cờ Vàng, cờ Mỹ và cờ hội thánh Công Giáo để tăng phần long trọng cho buổi lễ và cám ơn nước Mỹ đã đón nhận người Việt tị nạn cộng sản cũng như dương cao biểu tượng của người Việt quốc gia. Chính người công giáo Việt Nam tị nạn cộng sản tại Arizona này chứ không ai khác đã đóng góp mồ hôi nước mắt để xây dựng nên ngôi nhà thờ mới này.

Trong không khí hân hoan ngày đại lễ, nhiều giáo dân đã mang cờ Vàng đến mừng lễ với sự mong mỏi chính đáng: ngọn cờ chính nghĩa sẽ được tung bay trong ngày giáo xứ ăn mừng lễ khánh thành nhà thờ mới, nhưng mọi người đã thất vọng vì nhân viên an ninh Mỹ và "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã cương quyết không cho mang cờ Vàng vào sân nhà thờ. Nhóm áo tím đã còn ngang nhiên cướp cờ trên tay giáo dân.

Một số giáo dân đã truyền cho nhau hình Đức Thánh Cha Benedic 16 Choàng Cờ Vàng kèm theo thư ngỏ song ngữ Anh-Việt lời lẽ ôn hoà giài thích về cờ Vàng và lý do tại sao lá cờ được tôn vinh.

Nhưng sau đó "quần chúng tự phát áo tím" đã hung hăng "thu" lại từ tay một số giáo dân VN và xé nát, chà đạp dưới chân, mặc dù đó là chân dung vị Cha chung của giáo hội Công Giáo toàn cầu. (đây chứng tỏ họ không phải là người công giáo, mà chính là bọn công an CS được gửi sang Mỹ để lũng đoạn quần chúng VN TỴ NẠN CS).



Để phản đối, hàng chục giáo dân, nhiều cựu chiến binh Hoa Kỳ và một số thành viên cộng đồng tay cầm cờ Vàng cũng như phất đại kỳ trước nhà thờ. Niềm vui ngày đại lễ tan biến, ai cũng lấy làm đau buồn vì linh mục chánh xứ đã thành công trong việc dẹp lá cờ Vàng tại giáo xứ. Biểu tượng của người Việt Quốc Gia bị xoá bỏ trong sự im lặng cúi đầu chịu đựng của hàng ngàn giáo dân. Ai cũng sợ hành động ủng hộ cờ Vàng của mình là chống cha vì cha luôn chống cờ Vàng và chống cha là chống Chúa.

Dù đau xót vì biểu tượng hồn thiêng sông núi bị linh mục Thuận nhất quyết loại trừ khỏi giáo xứ, mọi người vẫn giữ ôn hoà, chỉ dương cờ Vàng và yên lặng tưởng nhớ đến các linh hồn tử sĩ đã dùng máu mình để tô thắm màu cờ bảo vệ chính nghiã quốc gia cũng như hiệp thông với giáo hội và đất nước đang bị đàn áp thô bạo tại Việt Nam.

Hai trong số cựu chiến binh Hoa Kỳ đã không thể chấp nhận sự bán đứng chính nghiã tự do ngay trên đất Hoa Kỳ, đã tay cầm cờ Vàng, tay cờ Mỹ đi vào sân nhà thờ nhưng cảnh sát Mỹ đã cương quyết ngăn cản theo lệnh của linh mục Thuận. Hai cựu chiến binh này đã chất vấn cảnh sát Mỹ: “ Tại sao nhà thờ này nằm trên đất Mỹ mà quý ông là công dân Mỹ lại chấp nhận cho họ ra lệnh loại bỏ quốc kỳ Mỹ? Ngoài ra, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng của một dân tộc yêu công bằng, bác ái, dân chủ, tự do và hơn 50 ngàn chiến binh Mỹ đã hy sinh để bảo vệ nó cũng bị loại bỏ ở cái nhà thờ này, quý ông có thấy xấu hổ không?“

Thật ngược ngạo khi linh mục Nguyễn Thuận dùng tiền của giáo xứ do giáo dân Việt Nam đóng góp để mướn cảnh sát Mỹ đàn áp lại giáo dân và biểu tượng của họ.

Sau thánh lễ Dâng Hiến Thánh Đường do Đức giám mục giáo phận Phoenix chủ sự, các giám mục, linh mục tiến ra sân nhà thờ xem đốt pháo, muá lân mừng thánh đường mới. Một số giáo dân đã vui mừng và phất cao lá cờ Vàng. Một điều nghịch lý mà không một ai có thể hiểu, trong khi các vị giám mục, linh mục Hoa Kỳ vui vẻ ban phép lành cho lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của dân tộc Việt Nam, có linh mục còn khoác lên vai như vị Giáo Hoàng cuả họ, thì các linh mục Việt Nam một số làm ngơ, một số đi thì thầm cái gì đó với các linh mục Mỹ để các linh mục Mỹ lấy cờ Vàng đang khoác trên người xuống, thậm chí có 1 linh mục còn giật lá cờ VN trên tay một giáo dân và lẩn mất.

Trong niềm hân hoan có nhà thờ mới, giáo dân ra về không quên tự hỏi, linh mục Nguyễn Thuận là ai? Linh mục muốn gì khi bất chấp dư luận, bằng mọi cách triệt hạ cờ Vàng Ba Sọc Đỏ? Và linh mục có giữ lời hứa “xây xong nhà thờ là tôi đi” không, để giáo xứ sớm có lại bình an, đoàn kết, thương yêu nhau như trước ngày linh mục đến nhận xứ cách đây 10 năm (?)?

Phoenix, ngày 22.04.2010

Gián điệp công an Việt cộng "Nguyễn Thuận" đã lòi đuôi chồn, sau hơn năm nằm yên tại Phoenix đã được lệnh trung ương phải ra mặt thi hành NQ 36. Các giáo dân ở Phoenix và CĐ người Việt tại Mỹ phải có thái độ với tên Việt cộng này.

*********************************************************

BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!

Trần Thanh


TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN:
............................................

Tình cũng khó theo thời cơm áo, khó

Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần!
.............................

Khăn tăm tối hãy ngang đầu quấn nốt

Quấn cho nhau, quấn bạo, quấn cuồng điên

Vòng sau cùng sẽ gặp quỷ SA TĂNG (Lê Thị Công Nhân)

Bởi hạnh phúc mơ hồ như Thượng Đế!
..................................

Đời vốn không nương người thất thế

Thì thôi, Ô NHỤC cũng là danh!
....................................

Những câu thơ trên do thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên sáng tác năm 1973. Bài thơ mang tựa đề "Hai hàng me ở đường Gia Long", nội dung nhuốm màu bi quan, yếm thế, thụ động, buông xuôi, chấp nhận số phận nghiệt ngã, coi như mọi sự đều do Thượng Đế an bài!

Khi đề cập đến sự đau khổ của toàn dân tộc ta dưới ách cai trị của bọn việt gian cộng sản, nhiều người đã cho rằng, ấy là "mệnh trời" đã quy định như vậy! Chẳng hạn, con tắc kè Đinh Thạch Bích thường xuyên đề cập đến "thuyết Định Mệnh": người Mỹ đã thay mặt cho "thuyết Định Mệnh", quyết định cho bọn việt gian cộng sản được xuống cọp an toàn rồi, đừng có chống cộng nữa, vô ích!

Do bị ảnh hưởng bởi "thuyết Định Mệnh" nên nhiều người trong chúng ta đâm ra buông xuôi mọi chuyện. Thay vì tích cực hành động để chấm dứt kiếp nô lệ thì ngày đêm họ cầu mong Thượng Đế cứu giúp, nhưng Thượng Đế đâu không thấy, chỉ thấy quỷ Sa Tăng Lê Thị Công Nhân xuất hiện, trong vai "thánh nữ", vị "cứu tinh" của dân tộc, mang màu sắc tôn giáo!

Chúng ta đang chiến đấu chống bọn việt gian cộng sản và đã chiến đấu ròng rã ba phần tư thế kỷ, từ năm 1945 đến nay. Chúng ta sẽ thua bọn chúng nếu chúng ta không thắng được trên mặt trận tôn giáo. Mặt trận tôn giáo là địa bàn hết sức quan trọng mà bọn giặc đã và đang triệt để khai thác. Ðó là nơi bọn cán bộ cộng sản đội lốt những nhà "tu hành" để bòn rút xương tủy của chúng ta và đâm chúng ta những nhát dao lút cán vào thấu tim gan, phèo phổi. Nhiều người đã bị chết mà vẫn không hiểu vì sao mình chết, ngược lại, còn cám ơn bọn chúng!

Hiện nay tại hải ngoại, bọn cán bộ cộng sản đội lốt tôn giáo đang hoạt động dày đặc. Có thể nói, khoảng 90 phần trăm những chùa và nhà thờ tại hải ngoại đều là những ổ rắn độc của bọn việt gian cộng sản. Ðó là những căn cứ địa hết sức an toàn của bọn chúng, nơi đó, chúng đã ra sức bòn rút máu tủy của chúng ta qua những chiến dịch "từ thiện", và đồng thời thi hành nghị quyết 36, quyết tâm thôn tính toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại, biến chúng ta thành những kẻ nô lệ như 85 triệu nô lệ ở trong nước!

Vì sao bọn giặc đã và đang thành công trên mặt trận tôn giáo? Trước năm 1975, bọn chúng đã thành công và bây giờ, vẫn bổn cũ soạn lại mà chúng ta vẫn cứ bị sa vào cạm bẫy?

Sở dĩ bọn giặc thành công vì chúng dựa vào các yếu tố sau đây:

1. Dựa vào sự ngu dốt chính trị của quần chúng

2. Dựa vào sự mê tín của quần chúng

3. Dựa vào lòng tham của quần chúng

Ngu dốt về chính trị chính là cứ thấy những thằng nào cạo đầu trọc, mặc áo cà sa là cứ cắm đầu cắm cổ vái lạy mà không hề dám tìm hiểu lai lịch, gốc gác của bọn chúng từ những cái lỗ nẻ nào chui ra? Cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều người chưa hề biết những tên sát nhân hết sức ghê tởm như Thích Ðôn Hậu, Thích Trí Quang là những tên cán bộ cộng sản thứ thiệt! Toàn bộ những "đức tăng thống", đệ nhị, đệ tam, đệ tứ của Phật giáo đều là bọn cộng sản đội lốt!

Đúng ra, có thể nhiều người đã biết điều này nhưng không dám lên tiếng. Sự hèn nhát của họ cộng với sự ngu dốt chính trị của quần chúng đã là mảnh đất mầu mỡ hết sức thuận lợi cho bầy vi trùng ho lao sinh sôi nẩy nở để gặm nát hai lá phổi của toàn dân Việt!

Thế còn sự mê tín? Xin thưa, sự mê tín của quần chúng nằm ở chỗ, đa số đã hiểu rất sai về tôn giáo của mình. Tôn giáo vốn dĩ, từ hàng ngàn năm nay, đã bị vô số những bọn lưu manh lợi dụng, sửa đổi giáo lý, vẽ rắn thêm chân, làm cho nó khác đi rất nhiều so với những điều giảng dạy nguyên thủy của những đấng Cứu Thế hoặc Giáo Chủ. Lấy ví dụ, cốt lõi của đạo Phật là sự TỰ GIẢI THOÁT. Ðức Phật chỉ hướng dẫn phương pháp tự giải thoát, còn tự mỗi tín đồ phải thực hành để tự giải thoát cho bản thân mình. Cũng ví như Ðức Phật chỉ cho những người sắp chết đói, chết khát biết nên đi về hướng nào để gặp con suối, nơi đó có cá và cây cối. Và khi đến được con suối rồi thì chính bản thân những người chết khát phải tự múc nước mà uống, muốn ăn trái cây thì tự họ phải trèo lên cây hái trái. Ðức Phật không thể "ăn giùm" hoặc "uống giùm" cho bất cứ người nào!

Tương tự như vậy, muốn thoát kiếp nô lệ thì chính chúng ta phải đứng dậy lật đổ chế độ cộng sản chớ không thể "biểu tình tại gia", nằm trốn dưới gầm giường trùm mền mà tự nhiên chế độ cộng sản bị sụp đổ! Người Mỹ không thể chống cộng giùm chúng ta, Liên Hiệp Quốc cũng chỉ gãi ghẻ và những hình bóng "đấng cứu thế" Góc Ba Chớp Việt Nam cũng chỉ là hoang đường!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích đang ra sức tuyên truyền trên diễn đàn paltalk và tờ điện báo VietNam Exodus. Đinh Thạch Bích là tên lưu manh chính trị, khoác áo "người quốc gia" để lừa bịp đồng bào. Sự nguy hiểm của hắn cũng không thua gì Ali Baba Nguyễn Chí Thiện, "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ hoặc "giáo sư" đại học Đặng Văn Nhâm!!!

Thế nhưng, như đã nói trên, vì mê tín và tham lam cho nên đã có rất nhiều người làm vô số điều ác rồi cứ đến chùa bỏ tiền vào thùng "phước sương", hy vọng rằng tội ác của họ sẽ được xóa hết! Ðây chính là hành động mình khát nước mà lại nhờ Ðức Phật uống nước giùm! Giả sử, chúng ta thèm ăn phở thì chính chúng ta phải chịu khó đi đến tiệm phở. Không có người nào điên khùng tới mức, nói là:" Anh ơi, chị ơi, tôi đang thèm phở quá nhưng bận việc không đi được. Anh chị có đi ăn phở thì nhớ ĂN GIÙM TÔI một tô cho tôi được no bụng nhé!"

Ðó là lý do vì sao đã có những kẻ đi ăn cướp nhà băng được một triệu đô la rồi đem mười ngàn đô bỏ vào thùng "phước sương" ở chùa để làm "từ thiện"!

Sự mê tín của quần chúng được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh, và chính nhờ đó, bọn cán bộ cộng sản - công an đầu trọc - đã và đang ung dung sống một cách huy hoàng như những ông vua trong những ngôi chùa nguy nga như những cung vàng điện ngọc, có đầy đủ những cung tần mỹ nữ phục vụ!

Sự mê tín đã đẻ ra lòng tham, hay nói theo kiểu cộng sản, hai cái này có mối quan hệ biện chứng! Hầu như ai đi đến chùa là cũng mong CẦU ÐƯỢC MỘT ÐIỀU GÌ ÐÓ. Cầu được danh, cầu được lợi, cầu được trúng số, cầu được tình duyên suông sẻ ..v..v... Và ai sẽ là người "đại diện" cho Ðức Phật để gia hộ độ trì cho các phật tử? Chính là quý "thầy", tức những tên công an đầu trọc chớ còn ai vào đó! Chính vì vậy mà đôi khi các tín đồ sùng bái quý "thầy" tới mức, nếu "thầy" bảo ăn cứt, họ cũng không dám từ chối!

Tất cả những điều Ðức Phật dạy, họ đã quên hết, hay nói cho đúng, họ học giáo lý như những con vẹt, học mà không bao giờ chịu suy gẫm và thực hành. Nếu may mắn, có những người học-hiểu, thì oái oăm thay, những kẻ này không bao giờ dám dùng sự hiểu biết của mình như tấm kính chiếu yêu để nhìn rõ chân tướng của những tên công an đầu trọc, như "đại đức", "thượng tọa", "hòa thượng"! (học-hiểu mà không học-hành là đồ bỏ!)

Cứ như thế, từ năm này sang năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chúng ta không có can đảm ÐỂ TỰ GIẢI THOÁT thì chín mươi triệu dân Việt sẽ mãi mãi làm nô lệ!

Muốn thoát kiếp nô lệ, chúng ta phải mạnh dạn lột mặt nạ của những tên công an đầu trọc và đưa bọn chúng lên giàn hỏa thiêu .....

Câu chuyện sau đây đáng để chúng ta suy gẫm. Xin mời quý vị theo dõi ....

*******

Nàng là thiếu nữ 22 tuổi, sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ. Cha mẹ nàng là người Việt nên nàng có tên Việt Nam là "Thắm", còn cái tên Mỹ "Tracy" chỉ dùng khi nàng đi học. Thắm là sinh viên năm thứ tư chuyên ngành về hóa học, sắp sửa ra trường. Nàng là sinh viên xuất sắc, biết đọc viết và nói tiếng Việt rất thông thạo. Tuy sinh trưởng tại Mỹ nhưng cái gốc Việt Nam của nàng đã được vun bồi khá đầy đủ. Ðây là công lao rất lớn của cha mẹ nàng, tuy xuất thân từ giới bình dân, lao động nhưng không bao giờ quên cội nguồn dân tộc. Cha mẹ nàng có ba người con, Thắm là trưởng nữ, rất hiền ngoan, học rất giỏi cho nên hai ông bà cưng quý nàng như một bảo vật. Một lý do nữa, Thắm là một cô gái sắc nước hương trời, hoa ghen thua "Thắm", liễu hờn kém xanh, là niềm tự hào lớn cho cả gia đình nàng và có lẽ cho cả cộng đồng người Việt tại tiểu bang Texas. Nhiều người đã đến xúi dục cha mẹ nàng, cho Thắm đi thi hoa hậu để kiếm "danh và lợi", theo đúng lời dạy của đại lão hòa thượng Thích Quảng Ðộ* nhưng cha mẹ nàng đã gạt phắt đi. Con gái mà đi thi hoa hậu thì sớm muộn gì cũng biến thành một loài đĩ công cộng, bị những bọn lưu manh thương mại lợi dụng, và không khéo cuộc đời sẽ bị kết thúc một cách bi thảm!

Tuy đang sở hữu một viên ngọc quý nhưng cha mẹ Thắm lúc nào cũng lo ngay ngáy trong bụng, nhất là nàng đã đến tuổi cần phải lấy chồng. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân nhưng "chốn ba quân" nào mới được chứ, xã hội bây giờ rất phức tạp, bọn ma cô, lưu manh, điếm đàng nhiều như ruồi ở khắp mọi nơi, lơ mơ là giao trứng cho ác! Cha mẹ Thắm thường bàn tính với nhau như sau:

Vợ: - Anh à, tụi mình đã thống nhất với nhau, con gái mình phải lấy chồng là người Việt. Em không thích con mình lấy Mỹ đen hay Mỹ trắng hay Mễ Tây Cơ, để rồi nó bị ảnh hưởng lối sống Mỹ, tụi mình sẽ mất con!

Chồng: - Ðúng! Bởi vậy, anh đang nghĩ nên cho con mình đến sinh hoạt trong những tổ chức của cộng đồng người Việt để nó có điều kiện kiếm chồng là người Việt!

Vợ: - Anh à, em thấy hiện nay có mấy tổ chức của người Việt quốc gia như "Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu", "Tuổi Trẻ Lên Ðường", "Tuổi Trẻ Tiếp Bước Cha Anh", "Ðoàn thanh niên Hưng Việt", "Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng" ..v..v.. Ðây là những tổ chức chống cộng, có nội quy sinh hoạt rất đàng hoàng, có cả đồng phục nữa, toàn là những thanh niên trí thức ở hải ngoại tham gia. Có lẽ mình nên cho con nó tham gia, một công đôi chuyện, vừa ích nước lợi nhà, vừa có cơ hội kiếm được tấm chồng đàng hoàng!

Chồng: (giật nảy người như bị điện giật)

- Ấy chết! Em không biết gì sao? Giao trứng cho ác! Ðó là những tổ chức do đảng cướp Việt Tân dựng lên, dưới sự chỉ đạo của bọn việt gian cộng sản! Con gái mình vào đó là tàn mạt cuộc đời! Có thể nói một trăm phần trăm tất cả những tổ chức "giáo dục tuổi trẻ" hiện nay tại hải ngoại đều là do bọn việt gian cộng sản núp trong bóng tối chỉ đạo! Tụi nó muốn biến giới trẻ tại hải ngoại thành những tên nô lệ ngu đần chỉ biết mù quáng tin tưởng vào bác và đảng, giống như những tổ chức như "Ðoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh" và "Ðội thiếu niên tiền phong" ở trong nước!

Vợ: - Hay là mình cho con nó tham gia mấy tổ chức từ thiện, chuyên đi làm việc phước đức?

Chồng: (lắc đầu thở dài ngao ngán)

- Anh đã tìm hiểu rất kỹ rồi. Toàn bộ những tổ chức "từ thiện" tại hải ngoại đều là do bọn cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản lãnh đạo! Con gái mình mà vào đó là tan nát đời hoa, là tự nguyện đi làm nô lệ cho bọn giặc! Nếu em xem băng Thúy Nga Paris, ở cuối cuộn băng có xuất hiện một thằng chó đẻ khoác áo "linh mục", kêu gọi đồng bào góp tiền để giúp những người "nghèo" ở Việt Nam! Toàn bộ số tiền quyên góp đó sẽ chui vào túi bọn giặc, đó là lý do vì sao hiện nay bọn cộng sản đã trở nên giàu nứt vách, mồi thuốc lá bằng giấy bạc 100 đô, mỗi khi đi ỉa thì tụi nó dùng giấy bạc NĂM TRĂM ÐÔ để chùi đít!!!

Vợ: - Còn mấy đoàn thể dành cho tuổi trẻ do nhật báo Người Việt và đài truyền hình Sinh Bắc Tử Nam tổ chức thì sao anh?

Chồng: (lắc đầu quầy quậy)

- Ðó là hai cái Ổ RẮN ÐỘC của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản, em không biết hay sao? Nội em nghe mấy chữ "sinh bắc tử nam" là biết rồi! Tụi nó là rắn độc nhưng đã khéo léo hóa trang thành những con lươn vô hại, hiền lành! Thằng chó đẻ nào cũng khoác áo "người quốc gia chống cộng" nhưng thực chất lại là cộng sản thứ thiệt!

Vợ: (tỏ vẻ thất vọng)

- Như vậy thì còn chỗ nào cho con mình sinh hoạt nữa? Không lẽ mình cứ giam nhốt nó mãi trong nhà để nó bị ế chồng?

Chồng: (nét mặt rất buồn bã, u sầu)

- Anh nói thiệt với em, đôi khi anh cảm thấy hết sức buồn chán và thất vọng. Có thể nói hiện nay thiên la, địa võng của bọn việt gian cộng sản đã giăng ra khắp nơi tại hải ngoại. Giới trẻ tại hải ngoại như những con chim non hầu như không còn lối thoát, đâm đầu vào bất cứ chỗ nào cũng đều là hang ổ rắn độc của bọn giặc! Tổ chức nào cũng trương lá cờ vàng ba sọc với hình năm vị tướng đã tuẫn tiết hồi năm 1975 nhưng thực chất lại là ổ rắn độc của cộng sản! Nói đâu xa, chẳng hạn như đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại. Sáng nào con mẹ giám đốc Lưu Lệ Ngọc cũng kêu gọi đồng bào "nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa" nhưng đến tối thì nó đi dự tiệc với mấy thằng cán bộ chó đẻ trong tòa đại sứ việt cộng! Nói đâu xa, tờ điện báo VietLand thường xuyên treo cờ Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên in hình năm vị tướng tuẫn tiết năm 1975, rồi cả hình các chiến sĩ hải quân VNCH đã hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974, nhưng thực chất bọn chó đẻ này chính là những tên chó săn, tay sai của việt gian cộng sản! Bọn chúng thường ngụy biện rằng tờ báo của chúng là diễn đàn "dân chủ, đa chiều" nhưng bọn chúng chỉ đăng một vài bài "chống cộng" (dỏm) làm kiểng để ngụy trang, che mắt, còn 95% những bài viết khác đều là những bài tuyên truyền, có lợi cho bọn giặc! Nói thiệt với em, nếu bọn chúng mà dám đăng bài của những người chống cộng thứ thiệt thì anh sẽ tình nguyện .... ăn cứt chớ không thèm ăn cơm nữa!

Vợ: (cặp mắt chợt bừng sáng)

- Anh à, em nhớ ra rồi. Tại sao mình không cho con mình đến chùa sinh hoạt, làm công quả? Tụi mình là phật tử thuần thành, cho con mình đi theo con đường "tu tại gia" là rất hợp lý. Biết đâu, nhờ đến chùa làm công quả, nhờ ơn Phật tổ, mà con mình kiếm được một tấm chồng xứng đáng!

Chồng: ( nét mặt rạng rỡ )

- À, phải rồi. Em nói đúng. Anh đã quên khuấy đi môi trường tôn giáo chính là nơi rất lành mạnh để giáo dục con người! Cám ơn em đã có ý kiến này rất hay!

Vợ: - Theo em biết, ở chùa hiện nay đang có nhiều đoàn thể dành cho các gia đình phật tử, chẳng hạn như gia đình phật tử Long Hoa, Quảng Ðức, Lý Công Uẩn ..v..v.. Mình cho con Thắm tham gia vào những đoàn thể này là rất phù hợp!

Chồng: (vỗ đùi đánh đét)

- Phải rồi, đúng quá! Vậy mà hồi giờ anh nghĩ không ra! Thôi, ngày mai mình đưa con đến chùa, xin cho nó gia nhập gia đình phật tử!

Thế là sau đó, cha mẹ Thắm đã đưa nàng đến một ngôi chùa lớn nhất tiểu bang Texas để xin cho nàng được gia nhập đoàn thể gia đình phật tử. Hai ông bà rất yên tâm vì đây là môi trường tôn giáo, chắc chắn là không có những bàn tay nhám nhúa, tàn độc của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản thò vào. Kể từ đó, cô Thắm được phát một bộ đồng phục màu lam và trở thành đoàn viên của gia đình phật tử. Chủ nhật hàng tuần, cô chăm chỉ đến chùa học giáo lý và làm công quả. Nhờ giỏi tiếng Anh lẫn tiếng Việt, lại là người trí thức nên cô được các anh huynh trưởng và quý thầy cô hết sức quý mến. Tính tình của Thắm lại rất ngoan hiền, chăm chỉ học giáo lý để thấm nhuần Phật pháp nên ai cũng thương mến. Và có lẽ, đặc biệt nhất, là cái nhan sắc "Tây Thi" của nàng đã làm mọi người mê mẩn, càng thương mến nàng hơn. Nhan sắc của nàng vốn được nuôi dưỡng bằng bơ sữa của Mỹ chính cống từ nhỏ đến lớn mà mấy con đĩ hoa hậu Hải Phòng ở trong nước không bao giờ có thể sánh kịp.

Ðược sinh hoạt trong gia đình phật tử, Thắm cảm thấy vô cùng thích thú vì nàng có dịp được mở mang kiến thức và quen nhiều bạn mới. Có điều Thắm hơi e ngại vì có một vài anh "huynh trưởng" mặt mũi trông rất bậm trợn tựa như du đãng bến xe, nói rặt giọng bắc Hải Phòng. Nàng đã loáng thoáng nghe một vài lời xầm xì rằng những "huynh trưởng" này chính là những đảng viên cộng sản, vượt biên qua ngã Hồng Kông, được cài vào chùa để hoạt động! Tuy nhiên, Thắm vốn là người kín đáo, thủ khẩu như bình, giả câm giả điếc để được an toàn tu học!

Một hôm, một tên huynh trưởng việt cộng nói với Thắm:

- Chị Thắm, thầy hòa thượng trụ trì cần mời chị lên để .... làm việc!

Thắm không hiểu hai chữ "làm việc" nên hỏi lại:

- Anh nói sao, em không hiểu?

Huynh trưởng việt cộng giảng ... "pháp":

- Nói chung trong thời gian qua, chúng tôi thấy chị phấn đấu tốt, học tập tốt và nàm công quả tốt nên đã kiến nghị lên thầy trụ trì giao cho chị nàm công tác quản ní thư viện!

Từ khi sinh hoạt ở chùa, Thắm chỉ được trông thấy thầy trụ trì có một vài lần. Nghe nói thầy là đại lão hòa thượng, đã trên tám mươi tuổi, đi tu từ khi ông nội của nàng vừa mới .... chào đời! Tuy đã lớn tuổi nhưng trông thầy rất quắc thước, dáng đi và những động tác vẫn còn cứng cáp, nhanh nhẹn. Thầy chỉ xuất hiện làm chủ lễ trong những buổi lễ lớn, ngoài ra, hàng ngày thầy nhập thất, muốn gặp thầy phải qua ba bốn lớp đệ tử canh gác cửa! Thắm cũng đã nghe loáng thoáng những lời xầm xì rằng thầy là đảng viên cộng sản từ hồi năm 1945 và thầy vừa mới về Việt Nam tham dự đại hội việt kiều!

Sau khi làm "công tác tư tưởng" xong, tên huynh trưởng việt cộng dẫn Thắm lên gặp thầy trụ trì. Lần đầu tiên được đứng đối diện với thầy trụ trì, Thắm không khỏi "run như run thần tử thấy long nhan". Thầy trụ trì tuy đã ngoài tám mươi, da mặt đã bị "xếp li" nhiều nhưng đỏ au và bóng lưỡng, chứng tỏ thầy được hấp thụ chất bổ rất nhiều. Ðặc biệt, thầy có cặp lông mày chổi xể rất rậm rạp, đã trổ màu bạc trắng như cước và cặp lông mi cũng đều trắng bạc, khiến bất cứ người nào mới thoạt nhìn cũng có ý nghĩ thầy giống như ... thần "Bạch Mi"!

Căn phòng riêng của thầy vừa là nơi làm việc và cũng là phòng ngủ. Ðiều đầu tiên đập vào mắt Thắm khiến nàng vô cùng kinh ngạc là ngay trong phòng có treo một tấm hình .... bác Hồ và một lá cờ đỏ sao vàng! Phía dưới lá cờ là ba khung hình lộng kiếng, có ghi mấy giòng chữ thật lớn như: "Huân chương chiến công hạng nhì", "Huân chương Ðộc Lập", "Huân chương đại đoàn kết dân tộc". Linh tính báo cho Thắm biết có một cái gì đó không ổn. Tại sao phía bên ngoài chùa thì treo cờ vàng ba sọc còn bên trong này thì treo cờ việt cộng? Thắm đã từng tham gia và chứng kiến nhiều cuộc biểu tình, nơi đó người ta đốt lá cờ máu và đốt hình Hồ Chí Minh. Nàng hiểu đại khái đó là những cái gì tượng trưng cho những tội ác hết sức ghê tởm, tựa như bọn khủng bố hoặc bọn phát xít hồi đệ nhị thế chiến! Vậy thì tại sao, tại sao lại có điều nghịch lý đến như vầy, Thắm thoáng có một dấu hỏi trong đầu.

Thầy trụ trì đang ngồi bật ngửa trên ghế, phì phèo điếu thuốc lá. Phía sau lưng thầy là một chú tiểu đang ra sức đấm bóp. Vừa trông thấy Thắm vào, thầy khoát tay ra hiệu cho chú tiểu và tên huynh trưởng việt cộng lui ra ngoài. Thầy chỉ tay vào chiếc ghế, nói với Thắm:

- Ngồi đi con!

Thầy có giọng nói rổn rảng, âm vực khá mạnh, đó là lý do vì sao đôi khi thầy thuyết pháp tại chánh điện, trước hàng ngàn phật tử mà không cần dùng máy phóng thanh! Thắm bẽn lẽn ngồi xuống ghế. Nàng vừa e thẹn, rụt rè, vừa cảm thấy hãnh diện vì không ngờ hôm nay nàng được ngồi đối diện với một vị đại lão hòa thượng, được giới tín đồ xưng tụng như "đấng giáo chủ" tại hải ngoại! Tuy nhiên, Thắm cũng hơi lo trong bụng, không biết thầy cần gặp mình có chuyện gì? Thầy trụ trì đích thân rót một tách trà rồi nở một nụ cười hiền từ, thân thiện:

- Con uống trà đi. Dạo này việc học giáo lý của con có tốt không?

Thắm đáp lí nhí:

- Thưa thầy, con học được!

Thầy hỏi tiếp:

- Mấy anh huynh trưởng giảng bằng tiếng Việt, con có hiểu không?

- Thưa thầy, hiểu!

Thầy đưa ra nhận xét:

- Thầy biết các con sinh đẻ bên Mỹ, tiếng Việt không rành cho nên nhiều con gặp khó khăn trong việc học giáo lý. Thầy đang cố gắng đào tạo những anh huynh trưởng có khả năng giảng giáo lý bằng song ngữ Anh-Việt nhưng chưa tìm được. Thật là may mắn, thầy nghe quý phật tử nói con thông thạo cả hai ngôn ngữ Việt-Mỹ. Con cố gắng học để trong tương lai làm công tác giảng dạy giúp cho Giáo Hội nghen. Phước đức nhiều lắm đó!

Ðược thầy khen, Thắm đỏ bừng mặt sung sướng. Ðúng là nàng giỏi tiếng Việt nhưng trong giáo lý có nhiều từ ngữ phức tạp, khó hiểu quá. Nghe nói đó là những từ ngữ bắt nguồn từ tiếng Tàu. Chẳng hạn như Thắm thường nghe anh huynh trưởng giảng thao thao bất tuyệt:

- .... trong các hạnh bố thí, có ba loại bố thí quan trọng nhất, đó là "Pháp thí, tài thí và vô úy thí" ...

Pháp thí và tài thí thì Thắm đã hiểu, còn "vô úy thí" là gì thì nàng mù tịt! Có lần Thắm đã hỏi anh huynh trưởng nhưng anh ta phớt lờ, viện cớ "bận việc", chắc có lẽ anh ta cũng chẳng hiểu! Thế là Thắm tự nhủ:

- Thật may quá, sẵn dịp này được gặp thầy thì mình nhờ thầy giảng cho thế nào là "vô úy thí"!

Nghĩ vậy, nên Thắm rụt rè hỏi:

- Thưa thầy, con không hiểu "vô úy thí" là gì. Xin nhờ thầy giảng cho con!

Thầy hòa thượng cười hiền từ:

- Giáo lý Phật Pháp nó vô cùng lắm. Nó thay đổi theo thời gian, tùy hoàn cảnh mà ta áp dụng! Ðể từ từ rồi thầy cắt nghĩa cho!

Nói xong, thầy nhìn hau háu vào khuôn mặt trắng hồng, đẹp tuyệt vời của Thắm khiến nàng e thẹn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà. Tiếp theo, thầy hòa thượng đủng đỉnh tiến lại chiếc giường nệm của thầy và ra lệnh:

- Con lại đây, thầy có chuyện cần hỏi con!

Nghe thầy ra lệnh đến bên "long sàng" của thầy, tự nhiên Thắm sợ hãi phát run. Bản năng tự vệ của nàng bùng dậy, nàng muốn chống lại mệnh lệnh nhưng không có đủ can đảm. Ðể tự trấn an mình, Thắm tự nhủ:

- Mình đang nói chuyện với thầy đại lão hòa thượng mà. Thầy đáng tuổi .... ông cố nội của mình. Không sao đâu!

Nghĩ vậy nên Thắm rụt rè, co ro cóm róm tiến đến, ngồi nơi mép giường, diện đối diện với thầy hòa thượng. Tự nhiên linh tính của nàng báo cho nàng biết có một điều gì đó không được bình thường mặc dù nàng đã hết sức tự trấn an. Nàng khẽ liếc mắt nhìn trộm "long nhan" của thầy thì tự nhiên nàng thấy kinh sợ quá. Tất cả những nét hiền lành, đạo cao đức trọng, từ bi độ lượng của một vị chân tu trên bảy mươi tuổi đạo, đã hoàn toàn biến mất. Nhường chỗ vào đó là cặp mắt hau háu đầy dục vọng như mắt của con chó sói vừa trông thấy con cừu non. Bằng giác quan thứ sáu, Thắm cảm nhận được sự thèm khát nhục dục qua ánh mắt và sắc mặt của "thầy" hòa thượng. Nàng cảm nhận được hơi thở của con chó sói đang gia tăng cường độ, ánh mắt của nó như những mũi dao bén nhọn đang săm soi vào lồng ngực của nàng. Bản năng tự vệ bùng dậy, hốt nhiên Thắm lấy hai tay che lồng ngực của mình. Tất nhiên, tất cả những sự hốt hoảng của Thắm đều không qua được cặp mắt lão luyện của con chó sói. Gã hòa thượng ôn tồn, nói bằng giọng nhỏ nhẹ như để trấn an Thắm:

- À, thầy định hỏi con một chuyện. Như con biết, sự học phải luôn luôn đi đôi với hành. Con đã học về đức bố thí, vậy từ trước tới nay,có bao giờ con đã bố thí cho bá tánh điều gì chưa?

Thắm lí nhí đáp:

- Thưa thầy, "Pháp thí" thì con không có khả năng để giảng "Pháp". Còn "tài thí" thì con cũng chưa làm được vì còn đang đi học nên không có... tiền!

Gã hòa thượng bật cười trước sự ngây thơ, thật thà của Thắm:

- Như vậy là con không có cái gì để bố thí cho bá tánh, như vậy thì làm sao tu đạt được chánh quả?

Thắm cảm thấy rất bối rối và mặc cảm trước sự nhận xét này của "thầy" hòa thượng. Ðúng vậy, nàng chẳng có cái gì để bố thí cho bá tánh, con đường tu học của nàng chắc chắn sẽ còn nhiều gian nan lắm! Người Mỹ cũng thường nói "give and take". Có cho thì mới có nhận. Mình phải làm phước cho bá tánh thì những điều phước đức nó mới tự nhiên tìm tới mình. Ðây là điều hiển nhiên gần như những định luật trong khoa học vật lý! Từ chỗ bối rối, mặc cảm, Thắm cúi gầm đầu, hai tay cuống quýt vân vê tà áo. Gã hòa thượng tiếp tục nhìn Thắm bằng cặp mắt của con chó sói đói mồi:

- Con không có gì để bố thí cho bá tánh, cũng không có gì để cúng dường cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), thì thôi, để thầy gợi ý với con điều này, giúp con giải quyết được "vấn nạn" ....

Nghe thầy gợi ý giúp đỡ, Thắm hơi mừng, khẽ ngước nhìn lên nhưng bắt gặp cặp mắt đỏ ngầu đầy thèm khát của con chó sói, nàng run bắn người, gục đầu xuống như con đà điểu vùi đầu trong cát nóng, chạy trốn sự thật. Tiếp theo đó, bằng giọng hơi run run, khàn khàn, thầy hòa thượng nói nhỏ với Thắm:

- Con không có "tài thí", không cúng dường được phải không .... Hay là, ... con cúng dường cái .... lồn của con cho thầy được không???!!!

Lời đề nghị táo bạo của gã hòa thượng như tiếng sét nổ ngang tai của Thắm. Nàng tá hỏa tam tinh, thấy bảy ông trời. Tuy nhiên, nàng hy vọng chắc là mình vì quá bối rối mà nghe lộn chăng? Vẻ mặt của Thắm vụt trở nên tái mét vì sợ hãi. Nàng cất giọng run run hỏi:

- Thưa thầy, thầy vừa nói cái gì?

Gã hòa thượng tự động tiến tới ngồi sát bên Thắm, đưa tay vuốt má nàng và nói thì thầm vào tai của nàng:

- Thầy đề nghị con nên cúng dường cái .... lồn của con cho thầy! Phước đức lắm đó con. Thầy đại diện cho Phật Tổ Như Lai sẽ gia hộ độ trì cho con được trúng số độc đắc, trở thành triệu phú! Pháp thí, tài thí và .... lồn thí là ba điều bố thí quan trọng nhất trong thời đại ngày nay. "Vô úy thí" là xưa rồi. Thời đại ngày nay phải là "lồn thí" thì mới tạo được nhiều phước báu, có thể trở thành tỷ phú đô la như mấy đồng chí trong trung ương đảng! Mấy cô hoa hậu ở trong nước đều là "lồn thí", nhờ vậy mà họ đều được giàu sang, phú quý!

Ðến nước này thì Thắm bỗng bật lên khóc òa, khóc một cách hết sức đau đớn, tức tưởi. Nàng khóc không phải vì nhân phẩm, nhân cách của nàng bị xúc phạm mà khóc vì .... thần tượng sụp đổ! Nàng không thể ngờ được một vị đại lão hòa thượng mà lại thốt lên những điều ngoài sự tưởng tượng của nàng! Có ngủ mơ chắc cũng không bao giờ nàng mơ thấy một cơn ác mộng đang xảy ra trong thực tế như vậy! Trời ơi là trời! Tại sao, tại sao và tại sao??? Rõ ràng từ bao lâu nay, nàng đã chứng kiến vị đại lão hòa thượng này là một vị cao tăng được rất nhiều người kính nể như một ông Phật sống. Một lời vàng ngọc của thầy ban ra, thiên hạ bá tánh răm rắp tuân theo và gần như là những sự vâng lời vô điều kiện. Có nhiều tín đồ sùng bái thầy tới mức, giá như, thầy bảo họ ăn cứt chắc họ cũng không dám từ chối! Như thế, đủ thấy uy lực của thầy lớn tới cỡ nào. Chắc chắn thầy phải là một bậc chân tu, đạo rất cao, đức rất trọng, cỡ như thượng tọa Thích Quảng Ðức đã dám xả thân tự thiêu vì đạo pháp. Vậy mà .... trời ơi, tại sao? Thật không hiểu nổi!

Thấy Thắm bật khóc, gã hòa thượng bèn đưa tay xoa nhẹ lên má của nàng, rồi bỗng nhiên, tựa như một con hổ đói, cầm lòng không đậu, gã đè ngửa con mồi ra, hôn chùn chụt, hôn lia lịa vào khuôn mặt đẹp của nàng. Sự sợ hãi, sự thất vọng, sự đau đớn về tinh thần đã làm cho sức kháng cự của Thắm hoàn toàn bị tê liệt. Nàng nằm xuôi cò trên giường tựa như Thúy Kiều, cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu, mặc tình cho con chó sói tha hồ tung hoành ngang dọc! Phước báu đâu không thấy, chỉ thấy chữ trinh đáng giá ngàn vàng của nàng sắp sửa bị tước đoạt!

Gã hòa thượng đã mở được cửa thiên đàng mà không hề gặp một sự kháng cự nào thì tội tình gì mà gã không thừa thắng xông lên, "tới luôn bác tài"! Gã nhanh chóng lột tuốt luốt toàn bộ quần áo của Thắm, biến nàng thành một con nhộng nằm tô hô ở trên giường, rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên! Tiếp theo, gã vùi đầu vào cặp vú của nàng và bú chùn chụt, bú lia bú lịa như một đứa trẻ bị khát sữa lâu ngày. Sau đó, như một dân chơi thứ thiệt ở động đĩ ngã ba Chú Ía, gã hòa thượng vùi đầu vào háng của Thắm, bú, mút và liếm một cách hết sức say sưa như một con chó sói đang khát máu. Thương thay một đóa trà mi, dâm tăng đã tỏ đường đi lối về!!!

Bây giờ thì gã hòa thượng đảng viên cộng sản đã hiện nguyên hình là một con quỷ dâm dục. Gã đã trần truồng một trăm phần trăm và đang nằm đè lên cô Thắm cũng đang trần truồng như nhộng. Gã ôm hôn Thắm lia lịa và thì thầm vào tai nàng qua hơi thở dồn dập:

- Tao thèm ... lồn quá!

Thắm gần như bị thôi miên hoặc tê liệt về thần kinh. Ðầu óc của nàng mơ mơ màng màng, thân thể của nàng hầu như bị mất hết cảm giác. Hay là vì nàng đã uống phải tách trà do gã hòa thượng pha, trong đó có bỏ thuốc mê? Trong cơn mê sảng, nàng chỉ loáng thoáng nghe những lời nói hằn học của gã hòa thượng:

- Hừ, trên bảo dưới không nghe! Trên bảo dưới không nghe!

********

Ngày hôm sau, Thắm vừa khóc vừa kể lại hết tất cả mọi sự cho cha mẹ nàng. Cha mẹ Thắm đã rụng rời chân tay, muốn ngất xỉu khi nghe câu chuyện kinh thiên động địa này. Hai ông bà rất tin Thắm vì nàng vốn là cô gái hết sức ngây thơ, thành thật, không bao giờ biết nói dối. Mẹ của Thắm, mặt tái nhợt như bị trúng gió, hỏi Thắm bằng giọng run run:

- Thiệt vậy sao con? Thiệt vậy sao con? Trời ơi, chắc tôi chết!

Sự lo sợ của hai ông bà tập trung vào hai điều. Thứ nhất, là câu nói của vị đại lão hòa thượng "Trên bảo dưới không nghe". Thắm đã thuật lại nguyên văn câu nói này cho cha mẹ nàng để cả hai tùy nghi nhận xét! Thứ hai, hai ông bà sợ Thắm đã bị mất trinh! Không khéo nàng mang bầu thì nguy lắm. Luật pháp nước Mỹ cấm phá thai, ai mà vi phạm, lơ mơ là đi tù! Trời ơi, chắc là phải đưa con Thắm về Việt Nam để nó phá thai!!! Thật là đại họa!

Cha mẹ của Thắm là phật tử thuần thành, rất tin vào đạo Phật, rất sùng bái mấy ông thầy chùa. Có lẽ đây là truyền thống của gia đình vì ông nội của Thắm, hồi năm 1965, đã sùng bái thầy Trí Quang tới mức, nghe theo lời thầy "dạy", đem luôn bàn thờ Phật ra ngoài đường để "đấu tranh cho đạo pháp"!

Mẹ của Thắm lo lắng hỏi chồng:

- Anh à, con Thắm làm cho thầy không vừa ý, thầy quở nó. Ðiều này làm cho gia đạo của mình bị tổn phước .... Em lo quá!

Cha của Thắm hỏi lại:

- Sao em biết là thầy quở nó?

- Thì nó kể là thầy cằn nhằn "trên bảo dưới không nghe"! Anh quên rồi sao?

Cha của Thắm đưa hai tay ôm đầu, nét mặt đăm chiêu, suy nghĩ rất dữ dội. Mỗi khi có chuyện gì quan trọng, ông thường làm như vậy. Khoảng chừng năm phút sau thì bỗng ông thở phào như trút được một gánh nặng ngàn cân. Ông mừng rỡ nói:

- Em à, con Thắm nhà mình vẫn còn .... trinh! Không phải thầy hòa thượng quở nó đâu! Anh đã tìm ra đáp số rồi!

Mẹ của Thắm hỏi dồn:

- Sao ông biết, sao ông biết?

Cha của Thắm nở một nụ cười tự hào và nói nhỏ với vợ:

- Tại em ít có theo dõi tình hình chính trị nên không biết. Cái câu nói "trên bảo dưới không nghe", nguyên thủy là câu nói của thằng chó đẻ Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước của việt cộng. Sau đó, báo chí ở hải ngoại người ta nhạo báng, biến nó thành ra câu "tục ngữ", ám chỉ mấy người bị liệt dương! Thầy đại lão hòa thượng của tụi mình là cộng sản chính cống đó. Thầy là thiếu tướng công an, trước đây đã từng là ủy viên trung ương đảng, hồi thằng Võ Văn Kiệt còn làm thủ tướng. Chính thằng Kiệt đã đưa thầy ra hải ngoại hoạt động để "gom bi" toàn bộ việt kiều! Anh biết điều này đã lâu nhưng anh không dám hé răng. Lơ mơ là tụi điệp viên của cộng sản nó tìm tới tận nhà, nó ám sát mình!

Mẹ của Thắm lại théc méc:

- Thầy là cộng sản thì có dính dáng gì đến việc con mình không bị mất trinh?

Cha của Thắm tiếp tục giải thích:

- Thầy đã cởi truồng nằm đè lên người con Thắm mà thầy thốt lên câu nói "trên bảo dưới không nghe", tức là ý thầy bất mãn, lực bất tòng tâm! Thầy muốn, nhưng "chú tiểu" không muốn! Thầy đã ngoài tám mươi tuổi thì "trên bảo dưới không nghe" là chuyện bình thường. Nhờ vậy mà con Thắm nhà mình vẫn .... còn trinh! Tôi dám cá một trăm phần trăm là nó vẫn còn trinh. Nó mắc cở không dám nói hết, chớ nếu bà hỏi nó chi tiết thì mọi chuyện sẽ minh bạch!

Nghe chồng giải đáp xong mọi chuyện, mẹ của Thắm thở phào mừng rỡ:

- Cám ơn Trời Phật. Nhà mình thiệt còn có phước lớn! Tôi chỉ sợ nó bị tai tiếng vì vụ này thì có nước ế chồng!

Ông chồng tỏ ra là người hiểu biết "nghệ thuật" sống ở đời:

- Nhưng dầu gì vợ chồng mình cũng là đệ tử của thầy. Dầu thầy của tụi mình có sai trái gì đi chăng nữa thì bổn phận là phật tử, tụi mình vẫn phải thờ kính thầy như thờ Phật, huống chi trong trường hợp này, thầy đã "nhân đạo" không làm cho con mình bị mất trinh! Bởi vậy tôi bàn với bà là ngày mai, hai vợ chồng mình phải mua trái cây, bông hoa và tiền mặt đem tới chùa làm lễ cúng tạ ơn thầy đại lão hòa thượng. Xin tạ ơn thầy đã "nhân đạo" buông tha cho con Thắm nhà mình!

PHẦN KẾT LUẬN:

Câu chuyện cô Thắm bị hãm hiếp là một trong hàng ngàn tấn bi kịch đã và đang xảy ra, trong đó, nạn nhân là những phật tử ngu dốt, mê tín và tràn đầy lòng tham. Chính vì tham lam, lười biếng, không muốn tự giải thoát cho chính mình nên họ đã nhờ các "thầy" đại diện cho Phật Tổ giải thoát giùm! Những tên công an đầu trọc thừa cơ nước đục thả câu, vừa bốc hốt đô la, vừa "gia hộ độ trì" cho nhiều cô gái bị mang bầu!

Cha của cô Thắm thừa biết tên đại lão hòa thượng là cán bộ cộng sản. Hắn đã công khai đi dự cái gọi là "đại hội việt kiều" ở Việt Nam. Nhưng cha của cô Thắm, cũng như vô số những phật tử khác đã ngậm câm miệng hến, tiếp tục cam tâm làm những tên nô lệ hèn nhát đến ngu xuẩn và tội nghiệp!

Con gái của mình bị hãm hiếp, không dám đi tố cáo với chính quyền, đã vậy hai vợ chồng còn tiếp tục rủ nhau đến chùa dâng lễ tạ ơn "thầy" đã giàu lòng "nhân đạo" không làm cho cô Thắm bị mất trinh!

Có lẽ sau khi đọc xong câu chuyện này, nhiều người sẽ kêu lên: - Ồ, đây là sản phẩm tưởng tượng của tiểu thuyết! Thực tế làm gì có ở ngoài đời?

Không đâu, xin thưa với quý vị, không phải là tưởng tượng. Bằng cớ là bọn việt gian cộng sản đang tiếp tục đổ tiền ra hải ngoại xây thật nhiều ngôi chùa thật "hoành tráng". Chắc chắn là bọn chúng thấy vấn đề kinh doanh tôn giáo, nhất bản vạn lợi nên mới làm như vậy! Ở trong nước, bọn chúng đã dám bỏ ra hàng chục triệu đô la để xây ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á, rồi còn thuê nguyên một chuyến bay rước "xá lợi Phật" từ bên Ấn Độ về!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích - biệt hiệu "con tắc kè"- vẫn cứ ra rả tuyên truyền trên diễn đàn paltalk, được tờ điện báo VietNam Exodus tiếp tay phổ biến! Ngày nào bọn công an đầu trọc còn tung hoành ngang dọc, ngày đó chúng ta còn làm nô lệ.

Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa, trong lần ghé thăm Việt Nam thuyết pháp, đã dạy chúng ta rằng:

- Muốn tự giải thoát, chúng ta phải chịu khó suy nghĩ, tìm hiểu đâu là nguyên nhân gây ra sự đau khổ và phải hành động để chấm dứt nó. Ngài Drukpa đã dạy rõ rằng, nếu biết ý thức và tích cực hành động thì chúng ta vẫn có thể thay đổi, biến cái xấu thành cái tốt, làm cho số phận của chúng ta trở nên khá hơn. Lỗi của chúng ta chính là KHÔNG CHỊU TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN NÀO ĐÃ GÂY RA ĐAU KHỔ VÀ ĐÃ THỤ ĐỘNG CHẤP NHẬN SỰ ĐAU KHỔ, COI ĐÓ NHƯ MỘT SỰ MẶC NHIÊN, một loại ĐỊNH MỆNH ĐÃ được AN BÀI!!!

Trở lại trường hợp của cô Thắm, chúng ta thấy nguyên nhân gây ra sự đau khổ chính là tên dâm tăng đại lão hòa thượng. Trong trường hợp này, muốn chấm dứt sự đau khổ cho bản thân mình và cho nhiều người khác thì bản thân cô Thắm và cha mẹ cô phải làm đơn thưa tên dâm tăng ra tòa để hắn vô nhà đá mà gỡ lịch.

Ý THỨC và HÀNH ĐỘNG phải đi đôi với nhau. Cha mẹ cô Thắm ý thức được tên dâm tăng là nguyên nhân của sự đau khổ nhưng họ không đã dám hành động. Sự hèn nhát đó đã đưa đến hậu quả là bản thân họ và con gái của họ phải tiếp tục làm nô lệ!

Xin đưa thêm một ví dụ khác: - Trong chúng ta, ắt hẳn nhiều người đã từng có sự nghi ngờ về cặp bài trùng dân chủ cuội Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Tuy nhiên, họ đã không dám đi ngược lại những cái loa truyền thông bất lương của bọn giặc. Thay vì dám lên tiếng thì họ đã chọn thái độ buông xuôi, câm lặng, để mặc cho bọn giặc tung hoành, coi như định mệnh đã an bài! Họ thường tự nhủ rằng: - một tiếng nói lẻ loi của mình thì liệu có ai tin, không khéo lại bị chụp mũ là "đánh phá tôn giáo, đánh phá "anh hùng dân tộc" thì bỏ mẹ!

Tương tự như vậy, nhiều người trong chúng ta đã ý thức được tập đoàn việt gian cộng sản là nguyên nhân gây ra nỗi khổ đau cho toàn dân tộc. Nhưng họ không dám hành động, thậm chí không dám lên tiếng nói đấu tranh, thay vào đó, họ đã chọn thái độ thụ động, buông xuôi, coi như định mệnh đã an bài!

Do đó, qua tấn thảm kịch của cô Thắm, chúng ta có thể kết luận rằng: SỰ HÈN NHÁT, SỰ NGU DỐT, SỰ MÊ TÍN VÀ LÒNG THAM đã làm cho nhiều người TÌNH NGUYỆN ĐI LÀM NÔ LỆ CHO BỌN VIỆT GIAN CỘNG SẢN!!!

Trần Thanh

Ngày 11 tháng 4 năm 2010

=========================

Chú thích:

* Thầy Quảng Ðộ đã "dạy" rằng: - phàm khi làm bất cứ việc gì, chúng ta phải nhắm vào hai chữ "DANH và LỢI"!!!

1 2 3 4 5 >>