Category: Thuật nấu ăn

BẢNG ĐỐI CHIẾU ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG - GIA VỊ - VẬT LIỆU DÀNH CHO NHỮNG AI YÊU NẤU NƯỚNG


Bảng đối chiếu đơn vị đo lường - gia vị - vật liệu
Source: tuyetrang's blog

BẢNG ĐỐI CHIẾU CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG

Nhiệt Độ

Độ Fahrenheit (F) - Độ Celsius (C)

100° - 38°
150° - 66°
200° - 95°
250° - 120°
300° - 150°
350° - 180°
400° - 200°
450° - 230°
500° - 260°

Dung Tích

¼ cup = 63 ml = 2 oz.
½ cup = 125 ml = 4 oz
1 cup = 250 ml = 8 oz.
1 lít = 33.8 oz = 1.1 qt = 4¼ cup
1 gal = 3.8 lít
1 MC = 1 tbsp. = 15 ml. = 1 muỗng canh
1 mc = 1 tsp. = 5 ml. = 1 muỗng cà phê
1 muỗng sành VN = 2 MC

Trọng Lượng

1 lb. = 454 grams = 16 oz
1 kg = 2.2 lbs
Lạng = 37,50 gam
__________________

BẢNG ĐỐI CHIẾU CÁC TỪ NẤU ĂN BẮC - NAM

Bắc / Nam

Ánh tỏi / Tép tỏi
Bột tẻ / Bột măng thít
Bột nếp / Bột Bắc
Bột nếp lọc / Bột Long Xuyên
Bột mã thày / Bột năng
Bột sắn / Bột báng
Bắp cải / Cải bắp (choux)
Con ba ba / Con cua đinh
Chất bẩn / Chất dơ
Giấy bản / Giấy xúc
Bóng bì / Da heo chiên
Quả bồ dục / Trái cật
Bát đơm cổ / Cái tộ
Bát vại / Cái tượng
Cải cúc / Cải tần – ô
Cốm trắng / Cốm dẹp
Cốm vồng / giống như cốm dẹp nhưng làm bằng lúa còn xanh
Bánh cuốn / Bánh ướt
Chúc phù / Tủ hũ ky
Nước dùng / Nước lèo
Hạt dẻ / Trái phú lịch
Rau diếp / Rau xà lách thẳng và to lá
Quả dứa / Trái thơm, khóm
Quả doi / Trái mận
Dạ dày / Bao tử
Đậu phụ / Tàu hủ miếng
Bánh đa / Bánh tráng cuốn nem
Đồ xôi / Nấu xôi
Đĩa to / Đĩa bàn
Củ đậu / Củ sắn
Chim Giẽ / Chim mỏ nhác
Giò lụa / Chả lụa
Giọc mùng / Đọt bạc hà
Hấp / Chưng cách thuỷ
Hoàng mộc nhĩ / Nấm mèo loại vàng
Nước hàng / Nước màu
Húng lìu / Ngũ vị hương
Hải sâm / Con đồn đột
Hoa hiên / Kim châm
Cải làn / Cải rổ
Nước lã / Nước lạnh
Cái liễng / Cái thố
Con le le / Con ba kiếng
Khoai sọ / Khoai môn
Khoai môn / Khoai môn cao
Khâu / May
Cái môi / Cái vá
Mướp đắng / Trái khổ qua
Củ mã thày / Củ năng
Tương mìn – sìn / Tương hột
Miến / Bún tàu
Mộc nhĩ / Nấm mèo
Rau mùi / Ngò
Rau ngỗ / Rau om
Rau thơm / Rau húng
Cải tống - sôi / Cải bắc thảo
Quả trám / Quả cà na
Nộm / Gỏi
Cá ngạnh / Cá tra
Chuối ngự / Chuối cau
Chuối tiêu / Chuối già
Tương ô – mai / Tương ô – môi
Cái phễu / Cái quặng
Cá quả / Cá lóc
Vỏ quýt / Trần bì
Rán / Chiên
Cái xẻng / Cái sạng
Vừng / Mè
Vây cá / Vi cá
_____________________________________________________

GIA VỊ (Anh - Việt)

Alum: Phèn Chua

Borax: Hàn the

Potassium Nitrate: Muối Diêm (hay còn gọi là Petersalt)

Ammodium Bicarbonate: Bột Khai

Cinammon: Quế

Fennel Seeds: Tiểu Hồi

Star Anise: Đại Hồi(?)

Clove: Đinh Hương

Nutmeg: Đậu Khấu

Cummin: Thì Là Ai Cập

Basil: Rau Quế

Lime Leaves: Lá Chanh

Ginger/Ginger Root: Gừng

Paprika: Ớt Màu

Dried Orange Peel: Vỏ Cam

Dried Mandarin Peel/Tangerine Peel: Vỏ Quít

Dried Lime Peel/Skin: Vỏ Chanh

Annatto or Annatto Seeds: Hột Điều Màu

Chilli Powder: Ớt Bột

Chilli Oil: Ớt Dầu

Garlic Powder: Tỏi Bột

Ground Ginger: Bột Gừng

Lemongrass: Sả

Galangal: Riềng

Coriander or Cilantro: Ngò

Coriander Seeds: Hột Ngò

Ground Coriander: Bột Ngò

Shrimp Paste: Mắm Tôm/ Mắm Ruốc

Bean Sprout: Giá

Granulated Sugar: Đường Cát (Trắng)

Mung Beans: Đậu Xanh

Lotus Seeds: Hạt Sen

Turmeric: Nghệ

White Radish/Tunip: Củ cải Trắng

Water Spinach: Rau Muống

Tamarind: Me

Soy Sauce: Nước Tương

Fish Sauce: Nước Mắm

Hoi-Sin Sauce: Tương Ăn Phở

Glutinous/Sticky Rice: Gạo Nếp

Kikkoman Soy Sauce: Nước Tương (Nhật Bản)

Tofu/Bean Curd: Tàu Hũ

Bean Curd Sheets: Tàu Hũ Ky

Water Chestnuts: Củ Năng

Preserved Radish/Turnip: Củ Cải Muối

Cloud Ears: Nấm Tai Mèo

Straw Mushroom: Nấm Rơm

Oyster Sauce: Dầu Hào

Preserved Mustard: Dưa Cải Muối Chua

Dates: Chà Là

Sesame Oil: Dầu Mè

Shark' s Fins: Vi Cá (Mập) dùng nấu soup

Chives: Hẹ

Maltose: Mạch Nha

Sugarcane Sugar: Đường Mía

Palm Sugar: Đường Thôt Nốt

Brown Sugar: Đường Nâu (dạng cát mịn hay dạng đường thẻ )

Rock Sugar: Đường đá (dạng hơi trong và giống như cục đá) - Đường phèn)

Taro Root: Khoai Môn

Five-spice Seasoning: Ngũ Vị Hương

Bean Thread Noodles/Vermicelli Bean Threads/Cellophane Noodle: Đều là bún Tàu, hay là bún Miếng

Chayote/Christophine/Buddha' s Hands: Trái Su Hào

Tapioca: Bột Báng

Eggplant: Cà Tím

Thyme: Thì Là

Shortening: Mỡ Pha (dùng làm cho bánh sốp hơn, v.v....)

Lard: Mỡ Lợn

Caramel Roux: Nước đường Thắng

Cardamom: Bột Gia Vị Đậu Khấu

Saffron: Cây Nghệ Tây

Allspice: Hột tiêu Jamaica

Fenugreek: Cỏ Cà-Ri (Loại cỏ này có mùi thơm dùng để chế Cà-ri)

Green Onion/Scallion: Hành Lá

Shallots: Hành Hương

Yellow Onion: Củ Hành Tây

Red Onion: Củ hành Tây ( Màu đỏ ) loại này bằng củ hành tây trắng. Lớn hơn hành hương

Rosemary: Cây Hương Thảo (Dùng nhiều trong món ăn Tây Dương )

Sichuan Peppercorns/Flower Peppercorns: Loại tiêu hạt đỏ, có vỏ mở ra hai bên giống như đoá hoa. Thường tìm thấy trong các siêu thị Hoa, và Việt Nam mình.

Coconut Milk/Coconut Cream: Khi mua và khui lon nước cốt dừa ra, bạn sẽ thấy phần trắng dày đặc ở trên hộp, phần đó gọi là Coconut Milk. Khi quậy tan ra thì gọi là Coconut Cream.

Nutmeg: thảo quả

Bay leaves: lá thơm
__________________

BẢNG ĐỐI CHIẾU CÁC VẬT LIỆU

Viêt - Anh - Pháp

Bột Bắp: Corn Starch - Fécule de Mais/Maizima
Bột Báng:Tapioca Pearl - Perles/Bille de Papioca
Bột Đậu Nành: Soya Flour - Farine de Soja
Bột Gạo Nếp: Glutinous Rice Flour - Farine de Riz Gluant
Bột Gạo Tẻ: Rice Flour: Farine de Riz Blanc
Bột Gừng: Ground Ginger - Gingembre Moulu
Bột Khoai Tây : Potato Starch - Fécule de Pomme de Terre
Bột Năng: Tapioca Starch - Amidon de Tapioca
Bột Nổi: Baking Powder - Levure
Bột Soda: Baking Soda - Bicarbonate de Soude
Củ Cải Muối: Preserved Radish - Betterave Saté
Củ Dền: Beet - Betterave
Dầu Cam: Pure Orange - Extract Extrait d'Orange
Dầu Chanh: Pure Lemon - Extract Extrait de Citron
Dầu Dừa: Imitation Coconut - Huile (de Noix) de Coco
Dầu Lá Dứa: Extract Pandan Flavour - Extrait de Feuilles de Pandan
Đinh Hương: Cloves - Clou de Girofle
Dứa Xắt Khoanh: Pineapple Slices - Ananas en Tranches
Gừng: Ginger - Gingembre
Hạnh Nhân: Almonds - Amandes
Hột Điều: Cashew - Noix au Cajoux
Hột Điều Đỏ: Annatto Seed - Graines D'Anato
Hột Ngò: Coriander - Graines de Coriandre
Hoa Hồi/Tai Vị: Star Aniseed - Anis
Kim Châm: Dried Lily Flower - Fleurs de Lily Séchées
Lá Dứa: Pandan Leaves - Feuilles de Pandan
Lá Thơm Bay: Leaves of Laurie - Feuilles de Laurier
Mắm Cá Linh: Salted Carp Fish - Saumure de Carpe
Mắm Cá Trèn: Salted Sheat Fish - Saumure de Silure Glan
Măng Tây: Asparagus Asperges
Mè Trắng: Sesame Seed - Graines de Sésame
Mộc Nhĩ/Nấm Mèo: Whole Black Fungus - Champignons Noirs
Muối Diêm: Sodium Nitrite - Nitrite de Sodium
Nấm Mèo Trắng: White Fungus - Champignons Blancs
Nghệ: Curcumin, Turmeric, Saffron, Croeus - Curcuma, Safran des Indes
Ngũ Vị Hương: Chinese 5 Spices - Epices Chinoises/Epices aux 5 parfums
Nước Hoa Bưởi: Mali Flavour - Eau de Fleur de Pampemousse
Nước Súp Gà: Chicken Broth - Bouillon de Poulet
Nước Tro Tàu: Lye Water - Eau de Cendre
Phèn Chua: Alum - Alun
Quế Chi: Chinnamon - Canelle
Sả: Lemon Grass - Schénanthe/Citronelle
Tàu (Đậu) Hủ Ky Tươi: Bean Curd Sheet - Feuilles de Soja Fermenté
Thạch Cao Phi: Gypsum Powder - Gypsum en Poudre
Thảo Quả/Tò O Fractus - Tsaokos?
Thính Gạo: Roast Rice Powder - Riz Grillé en Poudre
Thổ Tai/Phổ Tai: Dried Sea Weed - Hemérocalle
Tiểu Hồi: Cummin - Cumin
Tỏi Tây: Leek - Poireau
Tóc Tiên: Black Moss - Cheveux d'Ange
Trần Bì/Vỏ Quít Khô: Chan Pei - Peau de Mandarine Séchés

by AI HUU NINH THUAN
09/06/09. 04:44:53 pm. 1721 words, 898 views. Categories: Góp nhặt, Thực phẩm và dinh dưỡng, Thuật nấu ăn, Liên kết blogs ,

CHUYỆN NHẬT BỔN: "GỎI CUỐN CHẠY VÒNG VÒNG"!!!?

CHUYỆN LẠ: "GỎI CUỐN CHẠY VÒNG VÒNG"!!!?
(còn trong giai đoạn dự tưởng)
"Kaiten Harumaki" 回転春巻
Source: vietnamexodus
Đỗ Thông Minh

Đã nói đến "Sushi" của Nhật thì cũng không thể không nói tới "Kaiten Sushi" (Hồi Chuyển Thọ Ty: dây chuyền cơm nắm cá sống chạy vòng vòng).

Việt Nam cũng có một món làm nền rất phong phú, tương tự như bánh mì hay bánh kẹp, đó là bánh tráng. Nghĩa là dùng bánh tráng quấn được hầu hết mọi thứ nhân.

Thường một tiệm ăn Việt chỉ bán 4, 5 loại cuốn, nhưng tổng số có thể hơn 10 loạị Món cuốn bánh tráng (bánh đa nem) là món Việt Nam nổi tiếng hàng đầu ở Nhật. Ngay ở Nhật, một vài tiệm Nhật bán thức ăn Việt Nam đã chế thêm cuốn cá sống... nâng lên thành 9, 10 món.



Chúng tôi thấy rằng nếu chúng ta tập trung những món cuốn bánh tráng ăn thấy ngon thì cũng được khoảng hơn 20 món.

Bạn nghĩ sao nếu có "Kaiten Harumaki" (Hồi Chuyển Xuân Quyển). Có người cuốn sẵn tại chỗ, để các món cuốn lên đĩa cho chạy vòng vòng như "Sushi" để khách tha hồ lựa, thì đó là sự kết hợp giữa "phương thức Nhật Bản" và "nội dung Việt Nam", hợp với người Nhật lắm chứ!

1- Bì cuốn
2- Chả giò
3- Bò bía
4- Bò nhúng giấm
5- Bò nướng lá lốt
6- Cá hồi sống (salmon)
7- Cá thu sống (maguro)
8- Cá hấp
9- Cá nướng (mỡ hành + đậu phọng rang + nước dừa)
10- Chả giò
11- Chả ram (kiểu miền trung, bánh tráng sống cuốn chả giò chấm nước sốt gạch tôm cua)
12- Cua hấp
13- Gỏi cuốn
14- Gỏi cuốn tôm chua
15- Gỏi gà
16- Lòng gà
17- Lòng heo
18- Nem nướng
19- Nghêu hấp
20- Ốc hấp (tiêu + tỏi)
21- Thịt gà
22- Thịt nướng (ba chỉ nướng kiểu bắc)
23- Tôm hấp/nướng...

Đây chỉ là một số món tiêu biểu, có thể nói số món gia tăng không giới hạn, tùy theo khả năng sáng tác của người làm bếp mà thôị Và tùy theo món, chấm với nước mắm pha, tương, xì dầu hay mắm nêm... Thực tế khi bán sẽ có khoảng 20 món cố định và mỗi ngày hay mỗi tuần có khoảng 5 món thay đổi cho hấp dẫn hơn.

Cạnh đó, có thêm món phở gà và phở bò, rồi một số chè và nước uống thì là khá đầy đủ. Trong tiệm ngoài chổ ngồi dọc theo quầy với hệ thống chạy vòng vòng còn có khu có bàn ghế cho khách ngồi nếu muốn gọi mấy món nước...

Một thực đơn như vậy hy vọng sẽ thu hút khách thuộc mọi giới.



NÓI THÊM VỀ HỆ THỐNG SUSHI CHẠY VÒNG VÒNG

Đã nói đến "Sushi" thì cũng không thể không nói tới "Kaiten Sushi" (hồi chuyển thọ ty: dây chuyền cơm nắm cá sống chạy vòng vòng). Cá sống có rất nhiều loại, để cho khách dễ chọn lựa, người Nhật nghĩ ra hệ thống dây chuyền cung cấp những đĩa cơm nắm cá sống khác nhau chạy vòng vòng trước mặt khách. Khách ngồi ở ghế, thích ăn món nào thì cứ tự lấy xuống bàn của mình. Giá thường từ 100 đến 300 Yen, đôi khi cũng có loại đặc biệt 400 đến 500 Yen. Khi ăn xong, cứ tùy theo màu của đĩa mà tính tiền. Có tiệm còn cải biên thêm một bực, thay vì dùng dây chuyền thì dùng máng nước chảy vòng vòng, trên để khay nhựa cho nổi và trong khay nhựa để đĩa "Sushi" gọi là "Nagare Kaiten Sushi" (lưu hồi chuyển thọ ty). Đã có hàng ngàn tiệm loại này và tiệm lớn nhất lên tới 300 chỗ ngồi với dây chuyền dài khoảng 195 mét.

Mới đây để tốc độ cung ứng món ăn được nhiều hơn, có tiệm thiết kế cùng lúc hai hệ thống dây chuyền chạy ngược chiều nhau, cộng thêm một hệ thống dây chuyền chuyên chuyển các loại nước trà. Và để hiện đại hóa, điện tử hóa, có tiệm đã gắn cả mã ở đáy đĩa hay phiến IC, chỉ cần rà đĩa qua máy hay dùng máy cầm tay rà qua là biết tổng số tiền khách đã ăn, không phải đếm chậm chạp như trước. Có tiệm nghĩ cả chuyện là có món chạy hoài không ai ăn sẽ mất ngon, nên cứ khoảng 30 phút thì máy tự động gạt ra ngoài, coi như bỏ.

Hệ thống Sushi chạy vòng vòng (conveyor) có rất nhiều loại, giá cả khác nhau, nhưng căn bản giá khoảng 8.500.000 Yen. Tổng chi phí, kể cả trang bị và thuê chỗ ở một địa điểm trung bình độ 40 ghế, khoảng 25.000.000-30.000.000 Yen.

35 ĐIỀU KIỆN ĂN NGON

Lúc đói thì mì gói cũng ngon,
Lúc no thì thịt bò cũng chán.

I- Thức Ăn:
1- Tươi
2- Khô nhưng còn tốt
3- Gia vị thích hợp
4- Làm đúng cách
5- Nước uống thích hợp
6- Nóng hay lạnh (tùy theo món)

II- Sinh Hóa:
1- Đang đói
2- Khỏe mạnh
3- Nên ngửi qua mùi vị trước khi ăn (bị kích thích hơn)
4- Ăn một cách thong thả
5- Món nào ngon nhất ăn trước
6- Không ăn món vừa ăn nhiều lần (đâm chán)
7- Ăn vừa đủ (không ít quá, không no quá)

III- Tâm Lý:
1- Đang vui hay yêu đời
2- Có bồ
3- Có bạn
4- Ấn tượng
5- Kỷ niệm
6- Đang thèm
7- Rảnh rỗi
8- Người yêu nấu cho ăn
9- Lạ (đôi khi làm sợ thì không thấy ngon)
10- Tiếp đãi ân cần
11- Đúng lúc
12- Món mặn hay chay tùy theo người

IV- Khung Cảnh:
1- Bầu không khí (tùy theo vui nhộn hay yên tĩnh)
2- Sạch sẽ
3- Trình bày hấp dẫn
4- Trang trí nơi ăn đẹp
5- Âm nhạc
6- Ánh sáng
7- Thoải mái (không quá ít hay quá đông)
8- Ấm cúng (không lạnh lẽo, chút lãng mạn)

V- Thực Tế:
1- Giá rẻ
2- Không phải trả tiền (được bao hay đãi...)



CẢM GIÁC NGON ĐẾN LÚC NÀO?
CÓ CÁCH NÀO KÉO DÀI CẢM GIÁC NGON KHÔNG?


Chúng tôi thấy có nhiều sách báo viết về món ăn ngon, cho tới cả cách ăn ngon. Nhưng hầu như chưa thấy đề cập đến hai điều trên. Tại sao có nhiều sách nói về cách kéo dài cảm giác khóa lạc mà hầu như không thấy chỗ nào đề cập đến chuyện kéo dài cảm giác ngon khi ăn uống? Phải chăng đó là chuyện bất khả!?

Giả thử là chúng ta có đầy đủ các điều kiện để ăn ngon, nhưng cảm giác ngon đến với chúng ta lúc nàỏ Lúc nhìn, lúc nhai, lúc nuốt hay chẳng lẽ ăn xong mới thấy ngon?

1- Có người mới nhìn thấy mà đã phát thèm, tức chưa ăn đã thấy ngon, có khi ăn vào lại không như ý. Nhưng không thể chỉ nhìn mà không ăn, vừa thèm lại vừa tức không biết chừng.

2- Có người cho là phải cho vào miệng mới được, chứ ngắm không thì chỉ thèm chứ sao thấy ngon được.

3- Có người cho là cắn hay nhai, tức thực sự thưởng thức mới thấy đã thèm. Nhưng thử nghĩ lại coi, nhai cũng chỉ một chừng mực nào đó rồi nuốt, chứ không thể nhai mãi, vì càng nhai cảm giác ngon giảm dần. Có tiếc rẻ cách mấy như đứa trẻ ngậm mãi trong mồn không nuốt, thì cũng không thể giữ cảm giác ngon lâu dài mãi được.

4- Vì vậy, có lẽ miếng ngon chỉ cho chúng ta cảm giác mạnh nhất lúc nhai vừa phải và nhất là ngay lúc nuốt. Mà một khi đã nuốt rồi thì miếng ngon không thể trở lại nữa, cùng một miếng ngon không thể thực sự cho cảm giác ngon tới hai lần. Nếu như mấy người nhậu, ăn ngon rồi say mà ói ra thì chua lè, may ra chỉ có cho chó ăn thứ "chè" đó thôi, chứ ai cũng phải tránh xa. Phải chăng cảm giác ngon chỉ ngắn ngủi và vô phương kéo dài chăng? Điều này, bạn đọc có thể tự ngẫm giống như cảm giác khi làm tình thì chắc là rõ hơn, lúc thích nhất là lúc cuối cùng!

5- Ăn xong, thì nếu có cảm giác ngon cũng chỉ là dư vị, chắc không thể nào mạnh mẽ như chính lúc đang ăn.

Một cách đơn giản, thí dụ như khi chúng ta đang khát mà gặp ly nước chanh, nếu uống và nuốt ừng ực thì thấy ngon và đã lắm, nhưng nếu chỉ uống và ngậm trong miệng thôi thì chỉ có cảm giác tí xíu rồi có khi thành ra khó chịu, sau đó có nuốt cũng không thấy ngon nữa. Việc ăn uống nhanh hay chậm, cách nào cho cảm giác ngon? Vấn đề này có lẽ tùy thuộc từng người, cứ việc ăn uống theo tốc độ nào cảm thấy thích nhất là ngon nhất rồi, mọi cố gắng trái tự nhiên, ngược lại thường gây cảm giác khó chịụ

Thêm nữa, những miếng đầu bao giờ cũng ngon hơn những miếng sau. Có lẽ ngon nhất là 5, 7 miếng đầu và một nồi nước lèo lớn cũng vậy, chỉ ngon nhất độ mươi tô đầu, càng về sau nước béo hay chất ngon nổi ở trên mặt bị múc bớt thì không còn đậm đà như lúc đầu.

TIỆM ĂN VÀ TẠP HÓA VIỆT NAM
(trong bộ Nhật Bản Dưới Mắt Người Việt của Đỗ Thông Minh)

MỘT NGHỀ KINH DOANH ĐANG LÊN

Nếu muốn tự túc kinh doanh có lẽ không gì hơn là khai thác sở trường sẵn có và đang được người Nhật ưa thích, đó là nấu món ăn Việt Nam.

Cho tới năm 2005, ở Việt Nam có khoảng 100 tiệm Nhật pha lẫn Việt tại Hà Nội, Sài Gòn... với tên Akataiyo (Xích Thái Dương), Akatonbo (Xích ...), An Japanese Sushi Restaurant (Am), Aun, Club Tate ( Thụ ), Club Koto (Cầm), Daruma, Doremon Kaka, Fuji and Haru (Phú Sĩ - Xuân), Genkotsutei (... Đình), Hachiya ( Bát Thỉ ), Hanayuki (Hoa ...), Hisago, Honzen (Bản Thiện), Ichiban (Nhất Phiên), Itsuzu, K Cafe, Kanpachi (Khám Bát), Kii (Kỷ Y), Kishui (Kỷ Châu), Kissaten (Khiết Trà Điếm), Koneko (Tử Miêu), Lá Phong Sushi House, Lounge Tomo (... Hữu), Member's Lounge Piano, Men's Club, Minamidaimon (Nam Đại Môn), Nagomi, Nanbantei (Nam Man Đình), Nandaimon (Nam Đại Môn), Nihon NoAji UCC, Nishimura (Tây Thôn), Oshin, Petit Pop'n, Red Dragon Fly, Sail and Sake, Sai-To không phải tên Saito mà là từ Sài Gòn đến Tokyo), Sakanaya (Ngư Ốc), Sakura (Anh), Sanshimai (Tam Tỷ Muội), Shima (Đảo), Shu, Sushi Dokoro ( Thọ Ty Sở ), The Sushi Bar, Umiaji ( Hải Vị ), Wasabi (Hòa ...), Zen Saigon (Thiện), Zipang (cơm hộp)... cho tới loại quán thiện chí vừa ăn vừa học như Japan-Vietnamese Student Restaurant ở Sài Gòn. Công ty tiệm ăn hạng sang Chagall ở Tokyo thì mở một loạt tiệm ở Hà Nội và Sài gòn.

Giữa năm 2001, ở Sài Gòn thấy có tiệm Hỷ Lâm Môn ở quận 3 bán cả "bánh mì sushi" (bánh mì mềm kẹp cá sống). Mười tiệm ăn Việt Nam ở Sài Gòn được người Nhật ưa thích nhất theo thứ tự là Mandarine, Song Ngư, Nam An, Phở 2000, Tân Nam, Lemongrass, Luna, Vy, Ngọc Sương, Phở Hòa.

Ngoài hàng ngàn công ty qua lập cơ sở sản xuất, thầu xây cất hạ tầng... tất nhiên, người Nhật còn làm rất nhiều thương mại khác như mở khách sạn, sân gôn và ngay cả tiệm tạp hóa như Iroiro trong thương xá SAVICO, Raku (Ẩy, Lạc) chuyên về y phục, ví, giày dùng vải Kimono trong thương xá TaxTrade Center, tiệm thời trang hàng đầu như tiệm Zen ở Sài Gòn, rồi tiệm tắm bồn phun (spar), đấm bót.... chủ hướng tới du khách Nhật.

Trong khi đó, tới năm 2003, số quán có món ăn Việt Nam khắp nơi trên toàn nước Nhật cũng khoảng 300 tiệm (riêng Đông Kinh khoảng 100 tiệm). Nhiều người Nhật, nhất là phụ nữ, thích món ăn Việt Nam nên đã theo học các lớp nấu ăn. Ở Nhật đã có khoảng 15 cuốn sách về nấu ăn Việt Nam bằng tiếng Nhật, hầu như cuốn nào cũng có chỉ dẫn cách làm gỏi cuốn, phở, bánh xèọ Nhưng ở Việt Nam dường như mới chỉ có một cuốn sách nhỏ giới thiệu "Món Ăn Đặc Sản Nhâ.t-Hàn", trong có khoảng 20 món ăn Nhật.

Các tiệm ăn Nhật ở Việt Nam nhắm đến khách Nhật, vì đánh tâm lý người Nhật thích món ăn truyền thống, người Việt ít đến ăn vì có cá sống và giá thường rất đắt. Tiệm ăn Việt Nam ở Nhật cũng nhắm đến khách Nhật là chính, vì số người Việt quá ít. Có điều lạ là trong số đó, có khoảng trên 80% là do người Nhật làm chủ, nhất là các tiệm lớn và ở khu sang tro.ng. Tỷ lệ người Nhật mở quán Việt ở đây như vậy là rất cao so với các quốc gia khác, điều này cho thấy là người Nhật thích đồ ăn Việt Nam và việc mở tiệm đối với người Việt còn nhiều khó khăn. Trong khi đó, ở Hoa Kỳ và Gia Nã Đại có một số người Việt mở tiệm "bò Kobe" hay "sushi".

Ở Việt Nam nay có nhiều trường dạy nấu ăn cho du khách, nhất là du khách Nhật, như: La Fenetre Soliel, Over Land Club (dạy tới 400 món), Bảo, Song Ngư... Các nơi này đều có thông dịch, xe đưa đón, nhận dạy từ 2 người trở lên và trung bình dạy từ 2 đến 3 giờ đồng hồ với giá khoảng 35 đến 50 Mỹ Kim/1 người.

Có một số tiệm ăn đã cố gắng tạo bầu không khí rất Việt Nam bằng cách đặc biệt nhập cảng từ trang trí đến các dụng cụ ăn đều từ Việt Nam.
Kể về các tiệm ăn, kéo dài từ Hokkaido (Bắc Hải Đạo) ở cực bắc có tiệm sặc mùi nước mắm vì mang tên "Phú Quốc" (là tên một hòn đảo ở cực nam Việt Nam) do người Nhật mới mở, xuống tới Kyushu (Cửu Châu) ở cực nam có tiệm "Honba Betonamu Ryori" (Betonamu tiếng Nhật là Việt Nam) khá kỳ cựu của anh Đặng Đức Thịnh...

Lúc đầu chỉ cần tay nghề tàm tạm cũng được, bởi đa số khách là người Nhật, họ không khó tính như người Việt. Nhưng nay số tiệm và khách gia tăng, sự cạnh tranh cũng lên cao nên nhiều tiệm đã có nỗ lực cải thiện phẩm chất và cách phục vu..

Muốn mở tiệm phải trả lời được câu hỏi đầu tiên: "Tiền đâu?". Chi phí mở quán 20 đến 100 ghế khoảng 3 đến 40 triệu Yen (30.000 đến 240.000 MK), gồm hai khoản chính là tiền thuê hay sang cửa tiệm cũ (10 đến 20 lần tiền thuê hàng tháng), chiếm độ 1/2 và tiền trang thiết bị độ 1/2. Đòi hỏi số vốn cao cũng là trở ngại chính, nếu không thì số tiệm ăn Việt mọc ra có lẽ còn gấp bội bây giờ.

MÓN ĂN ĐƯỢC ƯA THÍCH

Các món được ưa thích nhất ở Nhật là gỏi cuốn, chả giò, chả giò rế, bánh xèo, phở bò, phở gà, carry, gỏi gà, miến xào, bánh cuốn, bánh ít trần, chè xôi nước, các loại trà và cà phê Việt Nam (năm 1999, được xếp hạng 4 trong số những cà phê thế giới được ưa thích tại Nhật), bia 333, bia Sài Gòn, rượu đế Lúa Mới, rượu đế Nàng Hương, rượu vang Gia Lâm... nước mắm, bánh tráng cuốn, bánh phở khô, vị phở cô đặc... nay trở thành các vật liệu khá quen thuộc với các phụ nữ Nhật mê món ăn Việt Nam. Dịp Tết, nhiều người Nhật quen biết với người Việt cũng được thưởng thức bánh chưng, bánh tét, các loại mứt, hạt dưa...

Thường để được thưởng thức thử nhiều món, hoặc vì chưa quen không dám ăn nhiều, người Nhật hay gọi các món gỏi cuốn, bánh xèo, phở, bún bò huế... rồi ăn chung với nhau.

Ở Nhật, món phở bò chưa đạt được "đỉnh cao nghệ thuật" như ở Hoa Kỳ, nên chưa được người Nhật chú ý như chả giò, gỏi cuốn, bánh xèo. Ở Hoa Kỳ, đối với người bản xứ thì đại biểu món ăn Việt Nam là phở bò, có một số cơ sở làm ăn khá, có hệ thống đến 60 tiệm phở Hòa hay 20 tiệm phở Bằng trên nhiều tiểu bang. Du khách Nhật tới Nữu Ước rất thích vào ăn tiệm phở Bằng. Ở nhiều tiệm phở, thấy có khách Hoa Kỳ, Mỹ trắng ngồi húp phở xùm xụp, tự nhiên cũng thấy hãnh diện lâỵ Món phở dễ chiếm ưu thế vì có thể ăn no phở bất cứ bữa nào trong ngày, giá cũng rất phải chăng, chỉ 4 đến 5 Mỹ Kim một tô, còn chả giò hay gỏi cuốn chỉ là món ăn chơi.

Nhân dịp tham dự hội nghị tại Hà Nội cuối tháng 7/2001, bà Ngoại Trưởng Nhật là Makiko Tanaka ( Điền Trung Chân Kỷ Tử ) đã mặc áo dài Việt Nam, ăn chả giò. Chả giò tiếng Nhật là "Harumaki", chữ Hán là "xuân quyển", nên bà nói bà còn ăn cả "hạ quyển", "thu quyển"... còn bà thì là "Makiko" (cũng có chữ "maki). Làm cho nhân viên đài TV Asahi số 10 ở Nhật tưởng thật, đã điện thoại hỏi chúng tôi là các món chả giò theo mùa đó khác nhau như thế nào!!!



TÊN "SÀI GÒN" ĐƯỢC CHỌN NHIỀU NHẤT

Đứng đầu trong lãnh vực kinh doanh tiệm ăn phải kể đến bác Nguyễn Văn Ngân, du học sinh qua Nhật từ năm 1941, nay đang làm chủ ba tiệm ăn lớn, một ở Yurakucho ("Sàigòn Café" mở từ năm 1952) và hai ở Ginza (Ngân Tọa), đều lấy tên là Sài Gòn, có tiệm tới 120 chỗ ngồi, sau này lại mở thêm tiệm bán đồ ăn làm sẵn trong khu chợ của đề-pa-tô Tokyu Toyoko ở Shibuya (Sáp Dịch).

Tên "Sài Gòn" được nhiều tiệm chọn nhất. Chúng tôi thấy có khoảng 20 tiệm mang cùng tên "Sài Gòn", có tới ba tiệm "Miss Sài Gòn" ở thành phố Musashino ( Vũ Tàng Dã ), rồi ở Shibuya (Sáp Cốc) và Fukui, có ba tiệm lấy tên Hà Nộị Có tiệm lại còn lấy tên "Sài Gòn Đẹp Lắm" từ một bài hát mà có lẽ người Việt Nam nào cũng biết.

Bảo đảm hương vị Việt Nam thì đã có tiệm lấy tên "Hương Việt" của chị Nguyễn Thị Điệp mở từ năm 1986. Chị Điệp trong năm 1996, 97... và 2003 cũng đã góp phần trong ba, bốn cuốn sách về món ăn Việt Nam bằng tiếng Nhật. Năm 2003, chị Điệp cùng anh Nguyễn Vĩnh Trường mở thêm tiệm Hương Việt thứ hai ở Shinjuku, đặc biệt tiệm này là tiệm đầu tiên có làm bánh tráng rế (lưới) tại chỗ. Thơ mộng thì có tiệm "Đà Lạt" ở Jiyugaoka (Tự Do Khâu) quận Meguro (Mục Hắc, mà rất là phim ảnh thời sự thì có "Ao Papaya" tức "Đu Đủ Xanh" ở quận Kita (Bắc). Lời chào niềm nở và thân thiện thì chắc không đâu qua mặt tiệm mang tên "Hello Việt Nam" ở quận Chiyoda (Thiên Đại Điền). Đơn sơ mà hấp dẫn thì không đâu hơn tiệm mang tên "Áo Dài" ở Akasaka (Xích Phản), quận Minato (Cảng).

Ở Kobe có tiệm Mekong khang trang rộng rãi với 60 ghế của anh Tòng sánh vai với một tiệm chắc có hương vị rất Hà Nội vì mang tên "Lâm Hà Nội" mà. Nếu tỉnh Shizuoka (Tĩnh Cương) có tiệm với cái tên "Sài Gòn" quen thuộc của anh Hùng thì cạnh đó, tỉnh Aichi (Ái Tri) không chịu kém, vừa ra một cửa tiệm với cái tên rất cổ kính và xanh rờn là "An Nam Blue". Cũng như "Mỹ Lệ Restaurant" của chị Mỹ Lệ ở quận Ota mở cũng hơn 12 năm qua, một nơi "khỉ ho cò gáy" như tỉnh Shimane (Đảo Căn) ở tây-nam Bản Đảo cũng có tiệm Việt Nam, thiên hạ chọn hết tên hay nên chị Hataoka không biết chọn tên nào khác hơn là tên mình "Hataoka Restaurant".

Năm 1997, Hokkaido (Bắc Hải Đạo) lại có thêm tiệm thứ hai, không chịu thua kém Sài Gòn nên mang tên "Chợ Lớn" mới lạ chứ, chuyên bán cà phê, bánh mì & tạp hóa Việt Nam do người Nhật làm chủ. Sau có thêm một tiệm ăn và rượu mang cái tên Nam Dương có vẻ bí mật "Tétés Café" (Tétés là giọt nước) nhưng bán món ăn Việt Nam và Thái, hơn 70 ghế, tại Nishi Azabu ( Ma Bố ), quận Minato do công ty Nhật làm chủ.

Hệ thống tiệm Mỹ Dung ở Đông Kinh, từ tiệm đầu tiên ở Shinjuku (Tân Túc), rồi hai tiệm ở Bunkyo (Văn Kinh), Ikebukuro (Trì Biểu) và tháng 4/1997 kết hợp với một khách sạn Thái Lan mở thêm tiệm nữa lấy tên là "Thiên Phước" ở Yotsuya (Tứ Cốc). Ở Shibuya thì có tiệm "Bougainvillaea" (Hoa Giấy) từ năm 1982, do anh Dương Tuấn Kiệt làm chủ và mới đây cuối năm 1996 có thêm tiệm "Miss Saigon" do chị Tám làm chủ. Dì Ba Theo nấu ăn nổi tiếng, thường làm giò chả cho các nơi và cô Loan kinh doanh tiệm "Hồng Phước" ở Omiya (Đại Cung), tỉnh Saitama (Kỳ Ngọc) từ năm 1993.

Năm 1997, chị Nguyễn Thị Giang đã mở tiệm mang tên "Giang's Betonamu Ryoriten", gần ga Futago Tamagawaen (Song Tử Ngọc Xuyên Viên) cuối đường tầu Oimachi, có khoảng 30 ghế. Chị Giang là người từng dạy gia chánh tại Việt Nam, làm đầu bếp chuyên nghiệp cho nhiều quán ăn ở Nhật. Chị cũng dạy nấu ăn Việt Nam khoảng bảy năm qua, có 200 học trò, hầu hết là phụ nữ Nhật, rất thích đồ ăn Việt Nam, có người theo học chị liên tục nhiều năm.

Ngay đối diện hội quán Kyurian (Shinagawaritsu Sogo Kumin kaikan) ở cửa đông ga Oimachi (ẸốẤôÊỠ, Đại Tĩnh Đinh), quận Shinagawa (Phẩm Xuyên) có tiệm "Sun Fish Kitchen" bán thức ăn Việt, Thái và Lào do người Nhật làm chủ.

Đầu năm 1998, tại thành phố Yao ( Bát Vĩ ), Osaka (Đại Phản) có tiệm Việt Nam mang tên "Sài Gòn Quán" do chị Mai Hoa và Tuyết Minh trông coị Lại có một quán tên "Ăn Ngon" tại quận Chuo (Trung Ương), Osaka do người Nhật mở, hy vọng là ngon hết sẩy. Rồi tiệm "Sáng Tạo" cũng của người Nhật và đầu bếp Việt Nam ra đờị Như vậy một lúc có đến bốn quán ra đời ở Osaka, sự cạnh tranh kể cũng khá gắt gaọ Nhưng cũng nhờ đó, phẩm chất của các món ăn dần dần được nâng caọ

Năm 1999, tiếp tục nhiều tiệm ra đời, có tiệm Quê Hương ở Kanagawa (Thần Nại Xuyên), Hà Nội Restaurant ở Saitama (Kỳ Ngọc), Việt Nam Alice ở Tokyo, Yuki Ryori ở Osaka và Long Tử Các ở Kobe ( Thần Hộ )...

Đầu năm 2000, có tiệm Sông Hương ở Ueno ( Thượng Dã ). Công ty Create Restaurants khai trương vào tháng 6/2000, một tiệm rộng rãi nhất với 120 chỗ ngồi và ở khu sang trọng nhất là Roppongi (Lục Bản Mộc) mang tên Vietnamese Cyclo, tiệm này có cả chỗ ngồi ngoài trời và trưng bày nguyên một chiếc cyclo thiệt đem từ Việt Nam qua (năm 2001, công ty này mở thêm tiệm mang tên Celadon ở quận Setagaya, Tokyo với 80 ghế và Celadon ở Osaka với 100 ghế ). Nhưng chắc là độc giả cũng rất lấy làm ngạc nhiên về cách chế biến của người Nhật khi ăn phở tại tiệm ba tiệm trên thấy trong phở có bỏ rau muống và chả giò ở Vietnamese Cyclo quấn hình loa kèn với đuôi tôm ló ra!

Đặc biệt có tiệm Asia Ryori Yakigamo ở Kawaguchi (Xuyên Khẩu), tỉnh Saitama do anh Lê Văn Lộc làm chủ, tự quay vịt và heo bán cùng nhiều món ăn Á Châu khác.

Qua tháng 10/2000, tiệm Thiên Long khai trương ở Kawaguchi (Xuyên Khẩu), Saitamạ Tháng 10/2000, có thêm tiệm mang cái tên lạ là Y-Sài Gòn (hỏi ra thì Y là chữ viết tắt tên ông chủ Yasaka và Saigon Tourist) ở Shibuya và Yokohama.

Tháng 12/2000, thêm tiệm Việt Nam Frog ở Kobe khá lớn với 110 chỗ ngồi, bán đồ ăn Việt và Pháp, nơi đây dự trù có cả trình diễn nhạc Việt sống mỗi tối.

Thêm hai tiệm Y-Saigon ra đời ở Shibuya (loại sang) và Yokohama (loại bình dân), hỏi ra mới biết cái tên "bí hiểm" ấy là do sự hợp doanh của hai công ty Yasaka của Nhật Bản và Saigon Tourist của Việt Nam. Cả hai nơi đều dùng đầu bếp chuyên môn từ Việt Nam qua. Nhưng cả hai tiệm đều lần lượt đóng cửa và mở ra tiệm mới trong thương xá Parlco ở quận Shibuya.

Qua năm 2001, có tiệm mang cái tên còn lạ hơn là Ăn Việt ở Nagoya. Ăn Việt ý chỉ ăn món ăn Việt, chủ nhân người Nhật biết rằng tiếng Việt không dùng chữ ghép như vậy, nhưng đối với người Nhật thì cũng không thành vấn đề. Đầu bếp là người Nhật, nên để nấu món ăn Việt, chủ nhân đã cử hai người lo về nấu ăn lên Mekong Center ở Tokyo học. Và còn nhiều nhiều tiệm khác nữa sẽ ra đời, nên nếu muốn ghi nhận cho thật đầy đủ sự ra đời của các tiệm ăn trên toàn quốc Nhật cũng mệt chứ không phải chơi.

Nhóm tiệm Ăn Ngon và Chảo Lửa ở Osaka với ba đầu bếp từ Việt Nam, đã mở thêm tiệm mới với cái tên thật độc đáo Cha Chả Là Đẹp vào tháng 7/2001. Người Nhật mà dùng được những từ như vậy thì tiếng Việt của họ cũng khá thâm hậu, hay ít ra họ cũng quan hệ với người Việt nhiều lắm mới chọn cái tên trên.

Tháng 9/2001, một công ty Nhật đã mở tiệm Phở House đầu tiên tại Akasaka, quận Minato Đông Kinh và tương lai dự định thành hệ thống toàn quốc.

Cũng trong tháng 9/2001, anh Lê Thanh Long đã khai trương một nhà hàng rất lớn lấy tên là Câu Lạc Bộ Long Hải, ngay trước ga Yamato (Đại Hòa), đường tàu Odakyu, tỉnh Kanagawạ Cửa tiệm rộng khoảng 90 "tsubo" (bình = 2 chiếu, tức hơn 250 mét vuông), có thể chứa được tới 150 người. Chia ra làm một phòng ăn, hai phòng Karaoke và một quầy rượu. Đây là tiệm Việt Nam lớn nhất từ trước đến nay, nhưng đầu năm 2004 đóng cửa.

Hệ thống tiệm ăn Papaya Leaf với 5 tiệm ở trung tâm Đông Kinh, đều bán chả giò, gỏi cuốn, bánh xèo, phở bò.

Từ năm 2000, hầu như tháng nào cũng nghe có vài tiệm ăn hay thủ công nghệ Việt Nam mới mở, thật là trăm hoa đua nở. Tháng 8/2003, có tiệm Saigon City ở thành phố Kawaguchi, tỉnh Saitama, tháng 11/2003 có tiệm Áo Dài ở cửa Tây ga Ikebukuro (ga này nay có tới 4 tiệm)...

Giá cả tại các tiệm ăn Việt Nam tương đối đắt, một người ăn tạm gọi là cho đã, tốn chừng 2.500 đến 4.000 Yen. Giá một số món chính (gấp 10 đến 20 lần ở Việt Nam):

Gỏi cuốn từ 550 Yen đến 1.100 Yen

Phở từ 800 Yen đến 1.280 Yen

Bánh mì từ 300 Yen đến 500 Yen

Bánh xèo từ 500 Yen đến 1.500 Yen

Tráng miệng, chè từ 300 Yen đến 600 Yen

Bia 333, Sài Gòn từ 480 Yen đến 600 Yen

Cà phê từ 350 Yen đến 550 Yen

Đa số tiệm đều đông khách, nhất là buổi tối, thực tế chỉ có một số tiệm bán buổi trưạ Tuy nhiên tình hình kinh tế cuối thập niên 90, năm 2001 còn đang khó khăn, số tiệm hơi nhiều nên cũng chia khách, cũng đã có những tiệm phải sang qua, bán lại.

Năm 2001, có công ty Viet House ở Tokyo, cung cấp công thức cà-ry Việt Nam để một công ty Nhật sản xuất, mỗi ngày khoảng 500 đến 700 phần ăn cho hàng chục siêu thị ở tỉnh Kanagawa, bên cạnh các tiệm ăn, có lẽ đây là công ty đầu tiên thuộc loại này.

Ngày 9/5/2002, cứ điểm đầu tiên của tiệm cà phê Trung Nguyên tại Nhật đã long trọng khai trương, địa điểm ở ngay ngã 5 của khu Roppongi rất tiện lợi. Đây được coi là cơ sở trung ương để từ đó phát triển ra thành hệ thống chi nhánh toàn quốc. Buổi ra mắt thu hút khoảng hơn 100 thân hữu, có đài TV TBS số 6, ký giả Rueters, nhiếp ảnh gia Takaya Fukui... đến làm phóng sự. Theo ông Giám Đốc Mizuno, buổi ra mắt đông nghẹt được coi là rất thành công.

Tất cả các dụng cụ, trang trí, bao gói đều được in nhãn Trung Nguyên. Ngoài các loại cà phê theo đúng bài bản Việt Nam là lọc tại chỗ và nếu cần cho thêm sữa đặc Ông Tho...., khách mời còn được đãi gỏi cuốn, bánh mì patê thịt, chả giò rế, xôi, nước ngọt... Số chậu và bó hoa do khách đem tơí khoảng 40. Ngày 11/5, cửa hiệu đã chính thức khai trương đối với khách thường. Đài TV TBS số 6 đã trịnh trọng giới thiệu về việc "Hương Vị Việt Nam - Cà Phê Việt Nam Đổ Bộ Nhật Bản" lúc 8 giờ tối ngày 11/5. Người Nhật cũng không chịu thua, cho rằng có nhiều người Nhật đi Việt Nam nhưng vẫn nhớ hương vị cà phê Nhật chăng (dù là cà phê nhập cảng nhưng rang theo kiểu Nhật), nên công ty cà phê hàng đầu là UCC đã mở chi nhánh Nihon NoAji UCC (UCC) ngay tại Sài Gòn, cũng là cứ điểm để bán hay cho thuê các thiết bị... cho Việt Nam, Cam Bốt và Lào.

Sản lượng cà phê VN năm 1998 là 400.000 tấn, năm 2000 lên 700.000 tấn, đứng hàng thứ hai sau Ba Tây sản xuất 900.000 tấn. Trung Nguyên là công ty cà phê Việt Nam mới thành lập năm 1996, trong có 6 năm, đã trở thành hệ thống tiệm cà phê lớn nhất Việt Nam với khoảng 400 tiệm trên toàn quốc. Ông Mizuno, Giám Đốc công ty Daitsu vừa thành lập năm 2001 đã ký khế ước với công ty Trung Nguyên để thiết lập hệ thống tiệm cà phê ở Nhật Bản.

Tới giữa năm 2000, số tiệm có món ăn Việt Nam ( không kể các siêu thị ) mà chúng tôi ghi nhận được là 87, qua giữa năm 2003 đã lên tới 300 tiệm, như vậy là đã gia tăng khoảng hơn gấp ba trong có ba năm.

CẢ NGÀN TIỆM BÁN THỨC ĂN VIỆT NAM?

Hotel Kusakabe Armeria ở Gifu ( Kỳ Phụ ) đã mời mấy đầu bếp từ Việt nam qua phụ trách nấu ăn và từ tháng 8/2001, có chương trình đặc biệt, giá trọ một đêm bao luôn một bữa ăn tự do (viking / all you can eat) toàn các món ăn Việt giá chỉ có 8.500 Yen. Một số khách sạn khác như Royal Park Hotel, Nikko (Tokyo)... thỉnh thoảng cũng đưa thức ăn Việt Nam lên làm chủ đề chính để câu khách. Hệ thống tiệm ăn Fujika (Bất Nhị Gia) trong tháng 7/2001 cũng đã mở "Vietnamese Food Fair" để thu hút khách. Lễ Hội Ẩm Thực Việt Nam (Vietnam Food Festival) do Tổng Công Ty Sài Gòn Du Lịch tổ chức tại khách sạn 5 sao Grand Inter Continental Yokohama, kéo dài suốt 2 tháng, từ ngày 30/9 đến 30/11/2002. Phần ẩm thực do đầu bếp khách sạn Kim Đô từ Việt Nam qua nấụ Cạnh đó còn có triển lãm hàng thủ công, trình diễn áo dài...

Khách sạn Royal Park ở quận Chuo, Tokyo đã tổ chức nấu món ăn Việt và Thái từ 15/1 đến 16/2/2003. Giá món phở là 2.000 Yen (16,5 MK), đắt gấp 3 tại các tiệm ăn ở Nhật, gấp 4 ở Hoa Kỳ và gấp từ 40 đến 50 lần ở Việt Nam. Cơm tối giá 6.000 Yen (50 Mỹ Kim)... Đúng là khách sạn, vào ăn ở đây là bị chém thẳng tay.

Từ tháng 2/2003, tiệm ăn Travel Vic's trong khách sạn 5 sao New Otani ở Akasaka (Xích Phản) nằm ngay giữa Tokyo bắt đầu bán khoảng 20 món ăn Việt Nam. Tháng 11/2003 có tiệm Áo Dài tại của đông ga Ikebukuro, đây là tiệm Việt Nam thứ 5 ở ga này.

Gỏi cuốn được xếp hàng đầu trong số các món ăn Việt Nam, có lẽ vì ngon và nhất là dễ làm. Gỏi cuốn thấy có làm bán tại chỗ ở một số chi nhánh của hệ thống Daimaru, Itoyokado, Marunoichi, Hankyu, Tobu, Isetan, Tokyu Toyoko (Shibuya), Jusco... Hệ thống hơn 100 tiệm Sozaiya thuộc Rock Field (RF1 có cửa tiệm tại 28 đề-pa-tô ở Tokyo và Yokohama) đã để bán nhiều loại gỏi cuốn, trong số đó có loại hơi lạ, có lẽ do họ tự chế ra...

Hệ thống 1.000 quán nhậu Shiraki (Bạch Mộc Ốc) hè năm 2000 có món chả giò tôm (bốn cái nhỏ bằng ngón tay trỏ giá 380 Yen, có điều hệ thống này không giải quyết được vấn đề pha nước mắm, nên dùng nước mắm pha sẵn của Thái hơi sệt sệt mà lại ngọt và chua). Hè năm 2001 thì giới thiệu món chạo tôm và gỏi cuốn nhân cá hồi, qua năm 2002 có gỏi cuốn nhân lươn và đặc biệt bánh tráng còn kèm thêm một lớp bánh kẹp nữa... Nhiều tiệm ăn Nhật, Hoa và Thái... nay cũng có thêm món ăn Việt Nam để thu hút khách.

Ngoài ra, đồ đông lạnh còn có chả giò rế, các loại hải sản, nhãn hạt tiêu, cà phê, trà... Khá nhiều tiệm ăn lớn của Nhật nay nay dùng chả giò rế đông lạnh cho tiện. Số tiệm ăn và thủ công nghệ Việt Nam nói chung càng lúc càng gia tăng.

Không biết Việt Nam có bao nhiêu loại gỏi cuốn, nhưng kỷ lục về số món này tại một tiệm đã về tay Oriental Kichen, mới mở vào tháng 3/2000 ở quận Setagaya. Tiệm này có tới 10 món gỏi cuốn khác nhau. Có những món y như Việt Nam, nhưng cũng có những món tự chế ra, như đệm thêm một lớp trứng tráng vào bánh tráng, cho cá hồi, thịt gà, sò điệp, bạch tuộc, rêu biển (cán mỏng phơi khô), trái bơ (avokado), củ cải, phô-mai (cheese)... Tiệm Blues ở Shibuya cũng có 9 món gỏi cuốn các loại sò ốc... Tiệm Bantan ở tận Kyoto cũng bán gỏi cuốn thịt gà, được coi là ngon hơn gỏi cuốn thịt vịt Bắc Kinh. Tiệm Cuisine De Haruno ở Shibuya cũng thấy quấn bánh tráng chung với rêu biển. Nhưng tiệm Café Mangrove ở Shibuya còn đi xa hơn, ngoài rêu biển, nhân là món độc đáo chưa thấy ở đâu, đó là cơm gạo lứt nấu thố. Tiệm Gem's Café ở Setagaya thì dùng bánh tráng cuốn với gan ngỗng nướng và xoàị Tiệm A Siber ở Nishiazabu, Tokyo thì cuốn kiểu hình phễu như một lối cuốn cá sống của Nhật, nhân lại là món ăn kiểu Okinawa, gồm thịt heo ngâm muối hay củ kiệu và nhiều rau xà lách chấm tương... thật là "loạn chiêu".

Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy phải gia tăng số loại gỏi cuốn mới đáp ứng được sở thích của dân mê gỏi và bánh tráng (tiếng Bắc gọi là bánh đa nem) nói chung. Độc đáo là có đại công ty thực phẩm Nippon Ham tung ra gỏi cuốn đông lạnh, vật liệu đã được chuẩn bị sẵn, chỉ việc mua về, thêm ra xà lách rồi tự cuốn thôi, thức ăn kiểu này thì nhất định là Việt Nam không có rồi.

Người Nhật cũng thích bánh mì thịt... kiểu Việt Nam, nên một số tiệm ăn cũng bán. Năm 2004, thấy xe bán thức ăn của Nhật ở trước tòa soạn nhật báo Tokyo, cửa đông ga Shinagawa bán món này.

Thực ra, có lẽ phở mới là món độc đáo nhất của người Việt, đang được "toàn cầu hóa". Ở Hoa Kỳ có những hệ thống 5, 20, 50 tiệm phở, nhưng vì cách làm cho ngon hơi khó và nhiêu khê, nên cho đến năm 2001 mới có hai tiệm chuyên về món này là Phở House ở Akasaka và Chanh Muối ở ga Takadanobaba, qua năm 2002, có thêm tiệm Phở Việt ở ga Ikebukurọ Ngày 14/2/2002, trên đài TV số 8 thấy giới thiệu anh Kotaro Koizumi (Tiểu Tuyền Hiếu Thái Lang), con trai Thủ Tướng Koizumi ăn phở. Người Nhật nào đi Việt Nam cũng mê phở, về lại Nhật thường tìm ăn phở hay mua về tự nấu phở bò, phở gà. Tổng Thống Bill Clinton khi đến thăm Việt Nam năm 2001 cũng đã ăn một lúc hai bát phở tại Sài Gòn. Tháng 9/2002, công ty thực phẩm tầm vóc quốc tế là Aji No Moto ( Vị Tố ) đã lần đầu tiên tung ra thị trường "phở gà gói ăn liền", 60 gam, giá 100 Yen.

Nhật Bản đang hướng mạnh vào Việt Nam và người Nhật rất thích món ăn Việt Nam, nên việc mở tiệm ăn hay mỹ nghệ cũng là một cách truyền bá văn hóa Việt vậy.

TẠP HÓA, THỦ CÔNG NGHỆ VÀ Y PHỤC...

Người Nhật có những nét văn hoá đặc thù, nên ở đâu lâu một thời gian họ đều lập cơ sở phục vụ người đồng hương. Ở Sài Gòn có tiệm bách hóa Nhật Nam, Sketch (phát hành tài liệu du lịch bằng tiếng Nhật), cho tới chữa bệnh như Columbia Asia Clinic, Family Medical Practice, Koseikaị Cạnh đó là các tiệm Việt hướng đến khách Nhật như Capune, Collection, Kinh Bắc, Miss Ao Dai, Orient Shopping Center, Prekitch, Tây Sơn, Zakka...

Người Nhật rất thích áo dài, món ăn và đồ mỹ nghệ của Việt Nam. Từ điển Quốc Ngữ nổi tiếng nhất của Nhật Bản là "Kojien" (Quảng Từ Uyển) từ lâu đã có ghi từ "áo dài" của Việt Nam. Trong đó đã định nghĩa áo dài là "Y phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Là kết hợp của áo dài có xẻ sâu và quần." Ở Nhật có khoảng 20 tiệm có bán áo dài, có cả tiệm chuyên về áo dài như Shop Việt Nam ở Shinjuku hay trên Liên Mạng, hầu như đều nhắm đến khách người Nhật. Người Nhật rất thích mặc áo dài nên đó cũng là niềm hãnh diện cho người Việt chúng ta.

Tới năm 2001, số tiệm liên hệ cũng đã tăng lên đáng kể. Có 4 tiệm tạp hóa ( do người Việt làm chủ ) và khoảng 110 tiệm bán hay triển lãm đồ thủ công nghệ, mỹ nghệ, y phục, thực phẩm, nhạc... Trong số này, chỉ có độ một phần nhỏ do người Việt làm chủ, còn lại đều do người Nhật hay ngoại quốc làm chủ. Ngoài ra, còn hàng chục người Việt bán "chui" (không có đăng ký và bảng hiệu chính thức) các loại sách, nhạc tại nhà và một số đồ ăn khô, kể cả một số thực phẩm tươi, heo quay sữa, thịt chó, rau trái bốn mùa... do các tiếp viên hàng không Việt Nam trực tiếp đem sang. Cũng có một số nơi sang băng hay đĩa lậu bán hoặc cho thuê.

Có một số công ty người Việt đứng ra nhập hàng từ Việt Nam, nhưng hầu hết vẫn ở quy mô nhỏ, các công ty Nhật mới thường nhập với số lượng lớn và phân phối trong thị trường Nhật. Mekong Center thành lập từ 15/6/1985, được kể là lâu đời nhất và nay là cơ sở hoạt động tổng hợp (thương mại, xã hội, văn hóa và truyền thông) duy nhất và lớn nhất ở Nhật Bản.

Từ tháng 3/2000, đê-pa-tô Marui ngay Shinjuku là khu buôn bán sầm uất và sang trọng nhất bắt đầu bán y phục, ví, guốc... Việt Nam trong Zakka Plus ở lầu 1. Bán chạy nhất có lẽ là ví và giầy dép, loại giá khoảng 2.000 đến 5.000 Yen cho các cô trẻ.

Nói chung, số tiệm sách nhạc và thực phẩm còn rất ít và số tiệm bán quần áo và đồ thủ công nghệ mới chỉ tăng vọt trong vòng hai, ba năm qua, nhưng cũng cung cấp tạm đủ những món ăn tinh thần và vật chất căn bản của người Việt. Có một số tiệm kiêm luôn các dịch vụ làm chiếu khán, mua vé máy bay, thông dịch, phiên dịch, các loại giấy tờ, môi giới hôn nhân... cũng như nhận may áo dàị Vì số người lo các dịch vụ chuyên môn còn quá ít nên một số tiệm Việt đã kiêm nhiệm luôn các dịch vụ khác nhau, không giống như ở các nước đông người Việt thường có tính cách chuyên biệt.

Sau giai đoạn bán đồ cũ, một số người Việt bước sang giai đoạn mở tiệm sửa đồ điện, có 5, 6 tiệm làm ăn cũng khá. Có tiệm trung bình một tháng sửa 200 đến 300 đồ điện như TV, đầu máy hát, máy điện toán... Có tiệm sửa đầu máy CD, thêm bảng vi mạch để có thể đọc được cả VCD, chỉ bán với giá khoảng 10.000 Yen (75 Mỹ Kim) một cái nên rất chạy.

Có một tiệm bán văn hóa phẩm như sách, nhạc và đặc biệt rất nhiều những kỷ vật của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng, Cộng Sản Việt Nam cho tới của quân đội Hoa Kỳ... Điều đáng nói, người ấy là một người Nhật 100%, anh Ugusa Isao, anh tự học tiếng Việt, giao dịch thân thiết với người Việt. Từ năm 1970, anh đã mua cuốn sách học tiếng Việt của Giáo Sư Nguyễn Đình Hòa để tự học và thực sự quan tâm đến vấn đề Việt Nam từ khoảng năm 85, 90. Anh biết rất rành về tình hình, nghệ sĩ và thức ăn Việt Nam... Anh đã đi Việt Nam nhiều lần, cuối cùng quyết định cưới vợ Việt và bỏ công việc đang làm với số lương khoảng 350.000 Yen (3.000 MK) để mở nhà sách Lê Lợi tại nhà ở Kobe năm 1998. Tiệm bán hàng qua thông tín, mấy năm đầu lợi tức chỉ độ hơn một nửa so với khi đi làm. Anh cũng phát hành bản tin bằng tiếng Nhật, công việc biên soạn khá cực nhọc vì đặc biệt anh phải đọc qua tất cả các văn hóa phẩm và giới thiệu sơ lược các sách và nhạc lên tới cả ngàn món bằng tiếng Nhật. Chuyện người Việt mở tiệm tạp hóa thì đương nhiên rồi nhưng người Nhật mở như vậy kể cũng lạ và đáng ca ngợi.

Tới giữa năm 2000, số tiệm có bán tạp hóa Việt Nam mà chúng tôi ghi nhận được là 37, qua giữa năm 2001 đã lên tới 115 tiệm, như vậy là đã gia tăng hơn gấp ba trong vòng có một năm.

THỨC ĂN VIỆT Ở NHẬT

Ngày nay, đủ mọi thành phần người Nhật tới Việt Nam, năm 1999: 110.000 người, năm 2000: 150.000 người, năm 2002: 200.000 người, năm 2002: 250.000 người, năm 2003: 300.000 ngườị Có điểm lạ là hầu hết phái nam thuộc chính quyền hay giới thương mại, đi lo những việc "lớn", kể cả việc lớn nhất đời người là tìm vợ Việt, vì họ mê cái dáng gầy mặc áo dài của phụ nữ Việt Nam lắm. Cứ nói tới phụ nữ Việt Nam là luôn luôn đi đôi với tính từ "đẹp". Không có thông kê về số người Nhật lấy vợ Việt, nhưng chắc chắn là không ào ạt như bên Đài Loan, tới nay ước khoảng vài trăm. Sau lưng các bà vợ Việt, các ông chồng Nhật thường to nhỏ "Coi vậy chứ phụ nữ Việt dữ lắm", có vẻ khiếp vía các bà vợ Việt. Còn phái nữ đông đảo hơn thì đa số qua Việt Nam may áo dài, mua sắm đồ thủ công nghệ và ăn thức ăn Việt Nam, trái cây... một số người trẻ còn tự lo học tiếng Việt để qua Việt Nam nói chuyện xã giao.

Người Nhật biết nhiều nhất đến bánh tráng và nước mắm Việt Nam. Họ thích nhất là gỏi cuốn gọi là "nama harumaki" (sinh xuân quyển) và chả giò gọi là "age harumaki" (dương xuân quyển), người rành hơn thì biết cả bánh cuốn gọi là "mushiharumaki" (chưng xuân quyển), rồi gỏi bì, bò bía cho đến bánh tráng rế (dạng lưới) mới chế ra từ khoảng năm 1998... Ngày 29/11/2000, trong chương trình giáo dục của đài NHK số 3, đã giới thiệu việc trồng lúa và làm bánh tráng Việt Nam qua câu chuyện một em gái Nhật qua Việt Nam làm bạn với một em gái Việt Nam. Ngày 11/6/2001, cũng đài này giới thiệu về cách làm gỏi cuốn. Ngày 22/3/2002, ông Ota Ryo (Thái Điền Lượng) thuộc đài NHK số 1 đã đến Mekong Center hỏi thăm về bánh tráng cuốn (đa nem) và vua Quang Trung. Sở dĩ hai điều đó liên hệ với nhau vì có thuyết cho rằng khi vua Quang Trung hành quân thần tốc đem 100.000 quân từ nam ra bắc đánh thắng 200.000 quân Thanh, chiếm lại thành Thăng Long ngay mùng 5 Tết năm Kỷ Dậu 1789, để tiết kiệm thời gian nấu nướng, quân sĩ đã dùng bánh tráng cuốn thay cơm.

Chương trình này đã phát ngày 30/4/2002, từ 11:15 đến 11:45 đêm. Nhật Bản hay Trung Quốc chỉ có bánh tráng sống làm bằng bột mì, muốn ăn phải chiên hay hấp, chứ không thể ăn sống như của Việt Nam. Loại bánh tráng xuất cảng từ Thái Lan cũng là do người Việt ở đông-bắc Thái làm ra.

Người Nhật mê gỏi cuốn đến độ công ty SBHP đã sản xuất một loại khoai với tôm, rau nghiền chiên (pha trộn giữa potato chip và phồng tôm) đóng bao mà cũng quảng cáo là có hương vị gỏi cuốn. Nhiều người ăn thử thì thấy ngon, nhưng chẳng thấy hương vị gỏi cuốn ở chỗ nào.

Ở Nhật nay có tiệm ăn bán 9 loại, có tiệm bán 10 loại gỏi cuốn, là điều ngay ở Việt Nam chắc cũng không có. Họ dùng bánh tráng Việt Nam cuốn tôm, thịt heo, thịt gà, trứng tráng thái sợi và nhiều thứ khác như đồ biển như cá hồi hun khói... do họ tự chế rạ Đặc biệt có tiệm cuốn bằng bánh tráng Việt Nam chung với rêu biển Nhật Bản, tiếng Nhật gọi là nori (hải đài, rêu được cán mỏng phơi khô như tờ giấy). Không biết cuộc tình giữa nam-nữ Nhật-Việt đằm thắm như thế nào, nhưng coi bộ hai thứ này "giao duyên" như vậy thì thật là khắng khít.

Năm 2002, công ty thực phẩm hàng đầu của Nhật là Aji No Moto ( Vị Tố ) đã tung ra thị trường "phở gà ăn liền" một gói 60 gam giá 100 Yen, vì phở là một trong những món nổi tiếng nhất của Việt Nam. Một số người Việt (các cô trẻ mặc áo dài trắng) và Nhật được mời thực hiện quảng cáo món ăn mới này ở Nhật. Năm 2003, công ty Kanebo (Chung Phưởng) sản xuất gỏi cuốn đông lạnh, vật liệu và nước chấm được cho vào từng bao riêng, hướng dẫn cách dùng, người dùng chỉ cần thêm rau thôi.

Tới năm 2003, đã có hơn 15 cuốn sách dạy nấu món ăn Việt Nam và 4, 5 cuốn về du lịch viết bằng tiếng Nhật ở Nhật, mà năm 2001 ở Việt Nam mới thấy có cuốn đầu tiên giới thiệu một số món ăn Nhật, nhưng vẫn chưa có cuốn nào về du lịch Nhật bằng tiếng Việt nào ở Việt Nam.

Người Nhật không chỉ tìm đến người Việt ở Nhật để học nấu ăn mà đôi khi họ qua tận Việt Nam tìm hiểu chính gốc luôn, nhất là một số người định mở tiệm ăn. Như cô Mari Tsuno, từ năm 1998, mỗi năm qua Việt Nam vài tháng để học nấu ăn. Cô đã đi khá nhiều nơi, khắp Việt Nam để tìm hiểu cả các món ăn địa phương nữa.

Ở Việt Nam nay có nhiều trường dạy nấu ăn cho du khách, nhất là du khách Nhật, như: La Fenetre Soliel, Over Land Club (dạy tới 400 món), Bảo, Song Ngư... Các nơi này đều có thông dịch, xe đưa đón, nhận dạy từ 2 người trở lên và trung bình dạy từ 2 đến 3 giờ đồng hồ với giá khoảng 35 đến 50 Mỹ Kim/1 người.

Ngày 4/10/2003, đài Fuji TV số 8, chiều nghệ sĩ trẻ đẹp Yamaguchi Moe (Sơn Khẩu) qua Việt Nam học nấu ăn tài tử, món cô học đầu tiên là phở bò. Cô đã đi xuyên khắp bắc nam, tuy không thể thưởng thức tất cả món ăn Việt Nam, nhưng qua những món cô đã thưởng thức thì cô thích 3 món sau:

1- Bún chả (món Bắc).

2- Xôi chiên phồng (sticky rice ball, đồ gạo nếp trộn đậu xanh thêm chút nước cốt dừa, đường... rồi giã hay xay nhuyễn, sau đó nặn thành viên rồi chiên/rán, sẽ phồng lên tương tự như bánh rán mè, nhưng to như trái bưởi nhỏ, cắt ra ăn với gà quay...) (món Nam).

3- Cá tai tượng chiên xù, ăn bánh tráng cuốn (món Nam).

Khoảng 400 cửa tiện bán đồ ăn, đồ thủ công nghệ và thực phẩm, sách nhạc... của Việt Nam ở Nhật cũng đã góp phần đáng kể trong việc đẩy mạnh giao lưu giữa hai dân tộc.

NGƯỜI NHẬT ĂN TRỨNG GÀ LỘN!!!

Người Nhật rất thích món ăn Việt Nam, hầu như món nào họ cũng thích, được mời ăn họ mừng lắm. Có lẽ họ chỉ sợ trứng vịt lộn và trứng gà lộn thôi, nhưng rồi cũng có một số người ăn thử và mê luôn.

Ngày Chủ Nhật 3/10/2004, đúng hẹn 12 giờ, ký giả Yoshinori Hashida (Kiều Điền Hân Điển) đã kéo cả hai ông xếp là Chi Cục Trưởng Tokyo Satoshi Fujiwara (Đằng Nguyên Thông) và "Thứ Trưởng" (Jicho, tương đương Phó Giám Đốc) Yugata Yano ( Thỉ Dã Dụ ) thuộc hãng thông tấn Kyodo (Cộng Đồng) đến Mekong Center để thử ăn trứng/hột gà lộn với muối, tiêu và cả và rau răm (tiếng Nhật gọi là "tade" ôử, ở Nhật cũng có nhưng không thấy bán ở chợ nên người Nhật hầu như không ăn, không biết tới). Người Việt hay nói "mắt lá răm", là mắt nhỏ và dài như lá rau răm, những tranh cổ Nhật Bản vẽ phụ nữ thường vẽ "mắt lá răm".

Trong khi chờ đợi luộc trứng khoảng 20 phút, chúng tôi đã nói những chuyện liên quan tới gà ở Việt Nam.

Trứng có trống (thụ tinh) ấp ra con thì gà mất 21 ngày, còn vịt mất 30 ngàỵ Nhưng thực ra gà mái nào cũng ấp, còn vịt thì đẻ bừa bãi và không ấp, may sao mà không tuyệt giống, người nuôi vịt phải đi lượm trứng ở ngoài đồng rồi đem về lò ấp. Gà thường đẻ một lứa khoảng 15 trứng, những trứng đầu không bảo quản tốt nên thường không nở ra con được. Thường người nuôi gà cho 2, 3 con gà mái đẻ, rồi gom độ 15 trứng mới nhất cho 1 con ấp thôị Hầu hết gà không phân biệt được đâu là trứng của mình đâu là trứng gà khác, nhưng cũng có con phân biệt được thì mổ phá trứng gà khác. Gà mái lo ấp, ít ăn, người gầy nhẹ hẳn đi, gà mẹ nuôi con tới khoảng 3, 4 tháng sau mới đẻ lứa trứng mớị Còn gà mái không được cho ấp thì chỉ độ 1 tháng sau sẽ đẻ lứa mớị Gà mái thường rất hiền, nhưng khi có con, một đôi khi chúng trở nên dữ, có khi dám đánh nhau với cả người để bảo vệ con. Ở Việt Nam đôi khi mua thêm gà mới nở ở chợ về để cho gà mái nhà vừa ấp lứa con nuôi chung. Thường thì gà mẹ nhận biết được đuổi gà con lạ đi, nhưng cũng có con không phân biệt gì cả, con nào cũng là con, có khi cả gà Mỹ con, vịt con cũng chấp nhận tuốt cho tiện sổ sách. Nhìn cảnh một gà mẹ chăm chút nuôi một đàn có khi lên tới 30 hay 40 gà vịt con cũng vui.

Loại trứng lộn ăn là loại ấp được khoảng 2/3 thời gian cần cho gà nở, tức gà thì 2 tuần, vịt thì 3 tuần. Khi đó con bên trong vừa ăn và ngon nhất, nhỏ quá thì chưa ngon, mà lớn quá thì xương cứng, nhiều lông nhìn cũng thấy ớn ớn.

Năm 1978, đài truyền hình lớn nhất nước Nhật là NHK số 1 đã thực hiện phim bộ "Vợ Và Con Gái Đến Từ Sài Gòn" (Saigon Kara Kitta Tsuna To Musume, nguyên tác của cố ký giả Kondo Koichi (Cận Đằng Hoành Nhất) thuộc nhật báo Sankei (Sản Kinh). Nam diễn viên đóng vai Koichi Kondo phải ăn từ từ và còn phải để chừa cái chân gà ra để thu hình. Ông sợ muốn ói luôn, nên vừa đóng xong là ông phải chạy ù đi xúc miệng.

Khoảng năm 1999, có một cô Nhật có bồ là người Việt đến Mekong Center chơi, chúng tôi mời cô ăn thử trứng gà lộn. Ban đầu cô nhất định từ chối nhưng sau cả nể, cô cũng ráng ăn thử. Cô vừa nhìn vừa sợ, cứ rụt rè mãị Khi bỏ vào miệng, người cô rùng lên, sợ hãi đến cực độ, thấy thật tội nghiệp! Nhưng đôi với người Việt thì việc ăn cá nhỏ còn đang bơi lội hay ăn cá sống (sashimi), gắp miếng cá từ con cá "tai" (điêu) nằm há miệng ngáp ngáp chấm xì dầu rồi bỏ vào miệng lại đáng sợ hơn!

Người mình có câu: "Nhất phao câu, nhì đầu cánh", là những thứ khoái khẩu trong con gà và tất nhiên cũng thích cả "lòng gà"... Nghe nói ăn đầu gà, mấy người Nhật ngạc nhiên hỏi ăn làm sao, có ăn mào gà không? Chúng tôi nói, thường là bổ đôi theo chiều dọc, ăn óc và mắt rất ngon, giống như người Nhật ăn "trứng cá non" và mắt cá ngừ (maguro) vậỵ Còn mào gà cũng ăn chứ, nó hơi dòn, sật sật.

Nhưng người Nhật thì nhắm cái "đùi gà", rồi mới tới "cánh gà".

Người Việt hay ăn gà luộc với lá chanh thường chấm muối tiêu hay nước mắm, ngoài ra có gà kho gừng, gà xào xả ớt... tiệm Y-Saigon ở Shibuya có món "gà nướng lá chanh".

Người Nhật thì thích xâu thịt gà nướng (yakitori, thiêu điểu).
Chúng tôi đã nói về một số ca dao hay ngụ ngôn liên quan tới gà như:
Gà trống nuôi con (như cảnh bố nuôi con vậy)
Gà mái gáy gở ( gà mái mà gáy là điềm gở )
Mẹ gà con vịt ( mẹ một đằng, con một nẻo, như vịt con thấy nước thì nhào xuống còn gà mẹ chỉ biết đứng trên bờ ngó )

Đầu gà đít vịt (ý nói không hợp nhau)
Luýnh quýnh như gà mắc đẻ (lu bu, rối cả lên)
Và một bài học thuộc lòng ở Việt Nam:
Con gà cục tác lá chanh,
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,
Con chó khóc đứng khóc ngồi,
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng...

Những câu này nói lên sự tương hợp đặc biệt giữa vật liệu và gia vị theo kinh nghiệm của người Việt. Ngoài ra thịt ếch cũng hơi giống thịt gà, nên người Việt còn gọi ếch là "gà đồng".

Ở Việt Nam, khi làm gà cúng thì luộc gà trống vì gà trống có mào trông oai, đep. Đặc biệt một số nơi còn xem chân gà để bói tốt xấu... Còn người đi thi thì "tuyệt đối" không nên ăn trứng, sợ xui, điểm bài mà là 1 hay 2 quả trứng như "0" hay "00" thì khốn rồi!

Cả ba ông thuộc hãng thông tấn Kyodo bắt chước chúng tôi đập nhẹ đầu lớn quả trứng, bóc vỏ và màng, cho muối tiêu... húp nước, ăn thử, ông nào cũng không ngờ là ngon hơn dự tưởng, lại nhắm với chút bia nữa thì thật là tuyệt. Mỗi ông làm một hơi 2 trái trứng gà lộn, ăn rất tự nhiên và khen rối rít nhất là khi húp nước, rồi lại thêm rau răm...

Sở dĩ họ kéo tới Mekong Center vì ông Yoshinori Hashida muốn tìm hiểu và viết bài về những chuyện gà ở Việt Nam... năm tới 2005 là năm Ất Dậu mà.

NGƯỜI NHẬT VÀ HƯƠNG VỊ XƯA: "NƯỚC MẮM"

Người Nhật hầu như chỉ dùng xì dầu chứ không dùng nước mắm, nhưng rất thích nước mắm Việt Nam. Nay chỉ có tỉnh Akita (Thu Điền) ở phía bắc Nhật Bản sản xuất ít nước mắm gọi là "shotsuru" (diêm ngư chấp), "gyosho" (ngư tương) hay "iwashi gyoju" (nhược ngư chấp: nước mắm cá mòi), các chợ thật lớn mới thấy bán.

Người Việt thường làm nước mắm bằng cá cơm, cá lục (một loại cá mòi), trộn muối để cho lên men trong khoảng 6 tháng cho cá tự phân hủy mà không cần gia nhiệt hay thêm bất cứ hóa chất nào, và nước mắm chảy ra chính là axit amin. Ở Việt Nam, nổi tiếng về nghề làm nước mắm là Phú Quốc, Phan Thiết, Nam Ô thuộc Đà Nẵng, Cửa Lò thuộc Nghệ An và Vạn Vân, Cát Hải thuộc Hải Phòng...

Truy nguyên ra thì từ xưa, các nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Việt Nam, Mã Lai, Thái, Miến Điện, Nam Dương... đều có sản xuất và dùng nước mắm.

Theo tài liệu của Nhật Bản ghi chép dấu tích vào năm 927, người Nhật đã làm nước mắm bằng cá mòi (iwashi, nhược). Ở Nhật, các tỉnh làm nhiều nước mắm nhất đều ở vùng biển phía tây tức biển Nhật Bản của Bản Đảọ Nhưng vì lượng cá và loại cá mòi thu hoạch không ổn định, nên từ thời Edo ( Giang Hộ ) cách nay khoảng 200 đến 300 năm, người Nhật bắt đầu dùng xì dầu (làm bằng đậu nành, muối và khuẩn "koji") thay nước mắm và nay thì đã coi như thay hoàn toàn, nên nhiều người Nhật không biết là chính Nhật Bản đã từng sản xuất nước mắm. Sở dĩ thay thế được như vậy vì thành phần và hương vị tương đối gần nhaụ Thực ra thì vị nước mắm Nhật Bản nhạt và ít hắc hơn nước mắm Việt Nam, nhưng nước mắm Trung Quốc còn nặng mùi hơn nước mắm Việt Nam. Nay thì chỉ còn lại Akita sản xuất nước mắm như một cách bảo tồn văn hóa và nhớ lại hương xưa.

Ngày nay, nếu người Việt mời người Nhật dùng nước mắm Việt Nam, cũng là cách đưa họ về với nước chấm quá khứ, và họ tiếp nhận dễ dàng. Ba tôi kể rằng, khi còn ở trong quân đội, khi ra công tác ở Đông Hà, có gặp một Trung Tá Mỹ gốc Nhật. Ông ta cho biết, mỗi ngày ông ấy uống một ly nước mắm nhỏ (loại ly cỡ ngón tay cái) và khi gặp sĩ quan Việt Nam, ông chào: "Nước mắm muôn năm!".

NGƯỜI NHẬT VÀ HƯƠNG MỚI: CÀ PHÊ VIỆT

Ngày 7/8/2002, nhật báo kinh tế Sankei (ÈYẬo, Sản Kinh) có đăng một bản tin dài cho hay là cà phê Việt Nam có vị thơm ngọt đang được ưa thích ở Nhật Bản, nhất là giới phụ nữ. Tại nhiều cửa hàng bách hóa (đề-pa-tô), cà phê Việt Nam có số bán vượt qua cà phê Ba Tây (Brazil) và Ý.

Nói đến cà phê Việt Nam là nói đến lối pha đặc biệt, mỗi ly một cái lọc, tuy không có gì là tối tân, nhưng có cái lãng mạn, tình tứ riêng của nó. Cho độ một thìa cà phê bột vào cái lọc rồi vặn nắp trong cho chặt, đổ chút nước sôi cho thấm đều và bột cà phê nở ra để nước khỏi chảy xuống nhiều quá, sau đó mới đổ đầy nước sôị Chờ khoảng 4, 5 phút, nước chảy xuống hết đem theo hương vị cà phê lan tỏa khắp nơi.

Tùy theo cách uống, cà phê đen, cà phê đá hay cà phê sữa... nhưng người Nhật cũng bị lối uống cà phê với sữa đặc của Việt Nam chinh phục. Song song với cà phê, để cho đúng gu, sữa đặc Ông Thọ của Việt Nam cũng được nhập vào Nhật, bán giá 580 Yen (gần 5 MK) trong khi Nhật cũng có sữa đặc chỉ bán giá khoảng một nửa, tức độ 300 Yen.

Công ty Daitsu của Nhật đã hợp tác với Cà Phê Trung Nguyên nổi tiếng với 3 đến 400 tiệm ở Việt Nam, mở tiệm cà phê đầu tiên ở Roppongi đầu hè 2002, bán cả thức ăn nhẹ của Việt Nam như gỏi cuốn, bánh mì thịt... và hy vọng sẽ lập thành hệ thống tiệm trong tương lai.

Tại tiệm Printemps Ginza, trong mùa hè năm 2002, cà phê hột của Việt đã vượt qua Expesso của Ý. Cà phê Việt Nam bán được tới 60% trong số khoảng 20 loại cà phê bán ở đây.

Đại công ty thực phẩm ăn liền (fast food) là Mos Food Service cũng đã thêm vào thực đơn món thạch cà phê Việt Nam, bán giá 200 Yen. Năm 2000, có công ty ở Yokohama sản xuất cà phê sữa Việt Nam đóng hộp giấy 500 cc, qua năm 2002 công ty Nọ 1 Kohi sản xuất cà phê đen Việt Nam đóng hộp giấy 1 lít. Năm 2004. công ty Azumino ( An Vân Dã ) ở tỉnh Nagano ( Trường Dã ) sản xuất cà phê sữa Việt Nam thêm bột báng đóng hộp giấy 220 gram. Công ty Esu Cook ở Osaka ( Đại Phản ) sản xuất miến hộp ăn liền, nhưng đố trúng giải là 10 cặp vé đi Việt Nam 4 ngày và tiền mặt tiêu vặt là 10 triệu đồng Việt Nam (khoảng 65.000 Yen hay 600 Mỹ Kim) và 3.000 giải trúng đồ gốm Việt Nam.

RƯỢU NHẬT LÀM Ở VIỆT NAM!?

Năm Minh Trị thứ 38 tức năm 1905, dưới thời Pháp Thuộc, đã có một Hội Chợ Quốc Tế được tổ chức tại Hà Nội, khi đó công ty bia Asahi, đồ gốm của Nhật... đã đem hàng qua triển lãm.

Thời nay, khi tính về thực tế thị trường, nhiều công ty sản xuất không cần giữ khư khư truyền thống nữạ Làm ở Nhật đắt thì đem qua Việt Nam... làm, như khâu "Kimono", bàn sưởi "kotatsu" ( loại bàn vuông thấp, có bộ phận sưởi điện ở dưới, dùng ngồi trên chiếu hay thảm không cần ghế ), trồng "wasabi", làm rượu...

Một công ty Nhật ở Kumamoto đã bỏ vốn đầu tư 100%, lập nhà máy làm rượu tại Huế, với thiết bị hầu như hoàn toàn của Nhật. Khoảng 20% sản phẩm được bán ra thị trường Việt Nam, còn lại xuất cảng trở qua Nhật. Ban đầu là rượu trắng, loại "sake" (tửu) mang tên "Thập Tự Tinh" (Jujisei) sau đổi ra là "Việt Nhất" (Etsuichi) bằng chai thủy tinh màu xanh ve, và loại "shochu" ( thiêu trữu/trụ ) tức loại rượu mạnh nấu bằng khoai kiểu Nhật mang tên "Đế Vương" (Teio) trong bình gốm Bát Tràng... Một công ty khác là Tanaka (Điền Trung) thì chế rượu "sake" ngay tại Sài Gòn cùng với một số rượu trái cây khác như nho... cũng để xuất cảng ngược về Nhật.

ĐỐI CHIẾU ẨM THỰC GIỮA VIỆT-NHẬT-TRUNG (Cả 3 dân tộc cùng ăn gạo và cầm đũa, đặc biệt gạo Nhật tròn và dẻo)

----------------------------Việt------------Nhật-------------Trung (TQ)----------------

Dân số năm 2005:---- 82 triệu-------128 triệu--------1.200 triệu
-----------2025:---- 120 triệu?---- 120 triệu?---- 1.300 triệu?
-----------2050:---- 140 triệu?---- 100 triệu?---- 1.400 triệu?

Tổng Sản LQN (GDP) 2005:------45 tỷ MK------ 4.500 tỷ MK------ 1.000 tỷ MK

Ngoại tệ dự trữ 2005:------------ ? --------- 730 tỷ MK------ 780 tỷ MK

Quan niệm ăn uống:------Khoái khẩu (ngon)------ Khỏe mạnh------ Bồi bổ (để truyền giống)

Thức ăn (ăn gạo, cầm đũa:------ Pha trộn------ Đơn giản------ Cầu kỳ
--------------------------------Nấu------------Tươi sống------ Xào
--------------------------------Hơi cay--------Không cay-------Ít cay
Nhậu (bia):---------------- Nam-------------- Nam-nữ------------------- Nam

Hút thuốc:---------------Hơi nhiều (nam)-----Trung bình ( nam-nữ )----- Trung bình (nam)

Rau thơm:--------------Nhiều---------------Rất ít--------------- Ít

Nước chấm:----------Nước mắm -----------Xì dầu (nước mắm)-----------Xì dầu (nước mắm)

Canh:-----------Rất đa dạng-----------Chủ yếu là tương-----------Khá đa dạng

Ăn canh:--------Gần chót (trộn cơm)-----------Cuối cùng-----------Trước tiên

Ăn súp:----------Ít, trước tiên----------Ít, trước tiên-----------Thường, trước tiên

Loại đậu thích:-----------Xanh-----------Đỏ-------------Xanh, trắng, vàng

Đũa bát:------------Dùng chung----------- Dùng riêng----------- Dùng chung

Dao, kéo:-----------Cùn------------------Thật sắc-----------------Sắc

Cưa, gọt, bào:------------Đẩy ra-------------Kéo vào--------------Đẩy ra

Phụ nữ Việt và Trung hầu như không đi nhậu, rất hiếm khi hút thuốc lá và uống bia, trong khi khoảng 25% phụ nữ Nhật hút thuốc lá và hầu hết đi nhậu và uống bia.

by AI HUU NINH THUAN
05/03/08. 06:42:07 am. 16091 words, 159 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thuật nấu ăn, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới ,