Category: Trong ðời sống thật sự
"BLACK SWANS" THE ONES TO WATCH FOR

The lesson is to be aware of how easily whole industries can be blown apart. Photo: AP
'Black swans' the ones to watch for
Source: smh.com.au
MATTHEW LYNN
April 26, 2010
The lesson is to be aware of how easily whole industries can be blown apart.
Whether it's banks collapsing or volcanoes erupting, the unexpected can upset the global apple cart.
FOR a generation or more, no one ever gave a second thought to Iceland. Now it has shaken up the world twice in a couple of years.
First, its banks collapsed in the most dramatic illustration of the fragility of our financial system. Now an Icelandic volcano has been spewing ash into the sky, prompting a shutdown, for some time, of European airspace.
The continent was paralysed. Planes were grounded.
Travellers were stuck thousands of kilometres from their families and workplaces. Business, for a time, ground to a halt.
Both happenings are strangely similar. They are, to borrow a phrase from financial theory, "black swan" events: unexpected developments, coming out of nowhere, for which no one has any kind of contingency plan. And they are a warning about the fragility of the modern economy.
The lesson, surely, is to be aware of how easily whole industries can be blown apart. And to make sure we build systems robust enough to survive the worst that can be thrown at them.
The Eyjafjallajokull volcano caused chaos on a massive scale. After the April 14 eruption, more than 80,000 flights were cancelled.
An easing of the cloud of ash, which can cause lethal damage to aircraft engines, meant that European airports could re-open.
But London's usually busy Heathrow Airport remained shut until late last week.
No one really knows how long the volcano will be a threat to the skies. Its last major eruption in 1821 lasted more than a year.
It can teach us useful lessons, if we want to learn them.
First, we are dependent on air travel. Our global economy is kept in motion by fleets of jetliners and a network of airports.
Business revolves around meetings in hotels next to the runways. Documents are ferried around by air. Even the food in grocery stores often lands a day before from another continent.
But air networks are very delicate. They are constantly at the mercy of the weather, mechanical failure, labour strikes and terrorist plots. We should have learnt after the September 11 attacks on New York and Washington not to depend so much on flying. Likewise, we should listen more to the climate-change scientists warning about the impact of global warming. Perhaps the recent chaos will teach us that our economy needs to be more grounded, both metaphorically and literally.
Second, we forget that distance counts. Globalisation has made the world seem a very small place. E-mails ping from continent to continent in the blink of an eye. Social networks allow us to be friends with people thousands of kilometres away as easily as if they lived in the next street. Money flashes from country to country, and ideas and trends zip around the world.
And yet, when the technology breaks down, it is a long way from Helsinki to Madrid, or from New York to Berlin.
Try doing that journey the old-fashioned way - by car, by boat, or on foot - and you suddenly realise the distance between places still counts for a lot.
The world isn't as much of a global village as we think it is. It's still a vast place, and the local can often bite back at the global.
Third, we need to prepare for the unexpected. A couple of years ago, it was the financial system that fell to pieces.
Right now, it is the transport system. In both cases, the cause was something we didn't expect, or make any plans for.
We thought hedge funds might blow up the banks - instead some rather dull-looking mortgages did. We thought terrorists might spread chaos through the airline system - it turned out that ash from an Icelandic volcano did that job.
In reality, "black swans" are everywhere. Much of Europe's energy is now supplied by Russia. Is that really stable in the long term? Much of our food is now genetically modified. What would happen if we suddenly discovered that it was not safe any more?
The euro is a relatively new currency. It has struggled to cope with a few deficit issues in Greece, one of the smallest member states. There must be half a dozen different kinds of crises that could mean the money most of the continent relies on does not work any more.
All sorts of unexpected events are lurking in the shadows.
By definition, we haven't thought about them. It is because they are so unexpected that they are so dangerous. What we can do is think harder about the threats, get better at forecasting them, and find ways of making ourselves less vulnerable.
Air travel is useful. It is the quickest and usually the cheapest way of getting around. But we shouldn't depend on it as much as we do.
We should not rely so completely on any single network, be it financial or technological. That should be obvious. But sometimes it takes something as powerful as a volcanic eruption to make a simple point.
BLOOMBERG
04/25/10. 11:33:19 am. 883 words, 380 views. Categories: Văn chương triết lý, Uncategorized, Thế giới ði về ðâu, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
GIẢI ĐÁP MỘT VÀI THẮC MẮC VỀ CẢI TỔ Y TẾ

Tồng thống Obama ký ban hành luật cải tổ y tế, 23/3/2010 - Hình: AP
Bài viết gồm 2 phần, với phần âm thanh riêng biệt cho mỗi phần, để quý vị nào không muốn mỏi mắt thì dùng nó.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC VỀ CẢI TỔ Y TẾ ( Phần 1/2 )
Luật cải tổ y tế vừa được Hạ viện Hoa Kỳ thông qua khuya chủ nhật 21/3 vừa qua. Theo các cuộc thăm dò cho biết, một số khá đông dân chúng Mỹ không hiểu rõ lắm về luật này. Chúng tôi đã tiếp xúc với nhà bình luận Ngô Nhân Dụng để nêu lên một số thắc mắc nhờ ông giải đáp. Mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn sau đây do Lan Phương thực hiện cho Câu Chuyện Nước Mỹ hôm nay.
Lan Phương | Washington, DC Thứ Ba, 30 tháng 3 2010
04/12/10. 11:53:30 pm. 4405 words, 128 views. Categories: Khoa học và ðời sống, Hậu trường, Trong ðời sống thật sự, Ðông Tây y dược, Phương pháp trị bệnh, Xã hội và nhân văn ,
VIỆT NAM 35 NĂM NHÌN LẠI - BƯỚC ĐẦU TRẢ LẠI DANH DỰ CHO VIỆT NAM CỘNG HÒA - QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA SAU HIỆP ĐỊNH PARIS

Buổi Hội thảo "Việt Nam 35 năm nhìn lại" tại Hoa Thịnh Đốn ngày 9 tháng 4, 2010 - Photo: RFA
VIỆT NAM 35 NĂM NHÌN LẠI
Quỳnh Như, phóng viên RFA - 2010-04-12
Cuộc chiến tại Việt Nam đã kết thúc cách nay 35 năm nhưng đối với một thành phần đông đảo người Việt Nam, cả trong lẫn ngoài nước, vẫn còn nhiều điều cần phải bàn cãi và làm sáng tỏ.
Đó là chủ đề một cuộc hội thảo quy tụ gần 50 nhân vật gồm những cựu tướng lãnh Hoa Kỳ và những nhà nghiên cứu quân sự, nghiên cứu sử học của Mỹ, cùng với môt số nhà nghiên cứu, cựu viên chức cao cấp Việt Nam Cộng Hoà trong thành phần diễn giả và tham dự lên đến gần 200 người, trong hội trường U.S. Army and Navy Club tại Washington.
Dư luận không thể là bằng chứng
Vai trò và tinh thần chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến 20 năm tại Việt Nam kết thúc cách nay đã 35 năm vẫn chưa được nhiều người trong hai thành phần tham chiến đánh giá đúng đắn. Dư luận Mỹ nay đã nhìn lại đôi phần từ khi có đông đảo người Việt sang tị nạn, nhưng cũng còn sót lại những khuynh hướng đổ lỗi cho sự thất bại của phe đồng minh ở Việt Nam là do sự yếu kém trong sức chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Phía đảng Cộng Sản Việt Nam thì luôn luôn nhấn mạnh đến vai trò của quân đội Hoa Kỳ, coi thành tích chiến đấu của quân đội miền Nam chỉ là thứ yếu, kém cỏi, tuy vẫn mạnh tiếng tố cáo quân đội này đã gây ra những tổn thất lớn lao cho lực lượng Cộng Sản từ những ngày nổi dậy ở miền Nam cho đến những trận tổng tấn công 1968, 1972 và 1975 của quân đội miền Bắc.

Cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington, ông Bùi Diễm phát biểu lời khai mạc tại cuộc hội thảo "Việt Nam 35 năm nhìn lại" tại Hoa Thịnh Đốn (April 4, 2010) - Photo: RFA
Sự thật lịch sử rất quan trọng đối với người Hoa Kỳ trong thế hệ ngày nay đang điều hành chính sách với Việt Nam, cũng như đối với những thế hệ đi sau của của những người chiến sĩ và viên chức Việt Nam Cộng Hoà. Những thế hệ hậu duệ đó nay đang chiếm giữ ngày càng nhiều những vị thế quan trọng trong nhiều lĩnh vực ở nhiều nước bên ngoài Việt Nam, cũng là thành phần không kém quan trọng đối với tương lai chính trị, kinh tế, xã hội của nước Việt Nam sau này. Nhìn lại lịch sử sau 35 năm chiến tranh về vai trò chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng Hoà, do đó, là chủ đề cuộc hội thảo tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ, do cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington, ông Bùi Diễm, và những người có tâm huyết với những người Việt quốc gia trong và ngoài nước tổ chức hôm thứ sáu mùng 9 tháng 4 năm 2010.
Sự thật bị bóp méo
Một trong những nhân vật đã từng chứng kiến những giờ phút quan trọng của lịch sử là cựu Đại sứ Bùi Diễm - ông từng là thành viên trong phái đoàn của chính phủ quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hoà tham gia Hội nghị Geneve 1954, Hội nghị Paris năm 1973, từng nắm giữ các chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Đại sứ lưu động của Việt Nam Cộng Hoà phát biểu lời khai mạc:
Đại sứ Bùi Diễm: “Hôm nay chúng tôi muốn chứng minh đã có sự bóp méo lịch sử, xuyên tạc những gì đã xảy ra ở miền Nam Việt Nam trước đây, và phản bác những định kiến sai lầm về vai trò, cũng như sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà.
Trong thập niên 1960, trên báo chí Mỹ, chẳng hạn như tờ Newsweek, đã có những tin tức, những bài báo với hàng tít: “Kẻ địch như hổ, còn chúng ta chỉ là những chú thỏ đế”. Dưới mắt những nhà báo có lối nhìn thiên lệch này, những “con hổ” được dùng để chỉ quân Cộng Sản, còn Hoa Kỳ và phía Việt Nam Cộng hoà bị ám chỉ là “những chú thỏ đế” một biểu tượng của sự hèn nhát. Sự thật thế nào, ông Bùi Diễm cho biết:
Đại sứ Bùi Diễm:“Trên thực tế, những “con thỏ” đó đã chiến đấu rất dũng mãnh. Trong số các diễn giả tham dự hội thảo này, có những người đã từng chiến đấu hồi Tết Mậu Thân ở Huế, trong đợt phản công hồi “Mùa hè Đỏ lửa” năm 1972 để giải vây An Lộc và tái chiếm Quảng Trị.
Những nhân chứng từng tận mắt chứng kiến những gì đã diễn ra sẽ chứng thực sự dũng cảm và kể về những chiến công của Quân lực Việt Nam Cộng hoà trong muôn vàn khó khăn. Dựa vào những kinh nghiệm mà họ đã từng trải qua trong cuộc chiến sôi động lúc đó. Các nhân vật này sẽ trình bày với chúng ta về sự thật đích thực”.
Trong khi báo giới Mỹ ca ngợi sự dũng cảm của quân nhân Hoa kỳ ở Khe Sanh thì những chiến công của quân đội Việt Nam Cộng Hoà trên chiến trường An Lộc, Quảng Trị hay trước đó là trong trận phản công hồi Tết Mậu Thân lại không được báo giới Mỹ nhắc đến. Tuy nhiên có những sự thật không ai có thể chối bỏ.

Thảm sát tại Huế năm 1968 vào Tết Mậu Thân của cộng sản VN. Courtesy NgoTheLinh (VN special forces website)
Cuộc thảm sát ở Huế: bằng chứng cụ thể
Năm 1968, Việt cộng mở một cuộc Tổng tấn công ở hầu hết các thành phố khắp Miền Nam như: Saigon, Huế, Đà Nẵng, Biên Hoà, Ban Mê Thuột,...
Trong các trận đánh ấy, cuộc thảm sát ở Huế là sự kinh hoàng khó quên đối với dân chúng. Đại tá Trần Minh Công thuộc Lực lượng Cảnh sát Quốc gia Nam Việt Nam, cho biết, có khoảng 5,200 người vô tội, hầu hết là thường dân, trong đó có cả những nhà truyền giáo và giáo sư ngoại quốc được Viện Đại học Huế thỉnh giảng đã bị Việt cộng giết hoặc chôn sống.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người từng đảm trách chức vụ Giám đốc Phòng Thông tin, Đại sứ quán Việt Nam tại Washington trong thời gian này nhận định, một trong những lý do khiến cuộc tấn công của Việt cộng vào Huế trở thành đẩm máu và kinh hoàng nhất là vì:
Nguyễn Ngọc Bích: “Nếu như cuộc tiến công hồi Mậu Thân vào Saigon là sự kết hợp của lực lượng quân giải phóng ở miền Nam dưới sự chỉ huy của Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt và Trần Bạch Đằng, cộng với các đơn vị chính quy miền Bắc do Lê Đức Anh và Mai Chí Thọ lãnh đạo thì lực lượng tấn công Huế chỉ có quân chính quy Bắc Việt và kết quả của mặt trận Huế sẽ mang lại uy danh cho lực lượng này. Đây chính là điểm quan trọng nhất để quy trách nhiệm đối với những kẻ đã gây nên các cuộc thảm sát ở Huế năm 1968”.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân còn cho thấy, Bắc Việt đã có sự thay đổi về chiến lược, từ chiến tranh du kích sang chiến tranh chính quy. Cựu Đại tá Cảnh sát Trần Minh Công cho biết:
Trần Minh Công: “Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân Cộng Sản đã bất ngờ tấn công miền Nam nhưng đã bị quân đội Việt Nam Cộng Hoà và lực lượng Cảnh sát kết hợp phản công tức thời. Vì thế âm mưu của Bắc Việt đã thất bại nhanh chóng. Kết quả là tổn thất về phía lực lượng Cộng Sản ở miền Nam rất cao và sau thất bại này, hầu hết các cơ sở nội thành và các chi bộ cộng sản được xây dựng từ lâu đã bị lực lượng Cảnh sát phá vỡ.
Hai năm sau cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân, Cộng Sản Việt Nam không thể tập hợp lực lượng để mở một trận đánh lớn nào vào quân đội Việt Nam Cộng hoà cho đến mùa hè 1972”.
Sức mạnh thực sự của QĐVNCH tại An Lộc và Quảng Trị
Sang năm 1972, Bắc Việt nghĩ rằng có thể sẽ giành được những chiến thắng quyết định trên chiến trường. Với chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, lúc này, Quân lực Việt Nam Cộng hoà, có sự yểm trợ hoả lực của Mỹ tự lực chiến đấu với quân đội Bắc Việt được Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, trợ giúp súng đạn tối tân.
Đầu tháng Tư năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt mở một trận đánh lớn vào An Lộc, một thị trấn nằm trên quốc lộ 13, nối liền Saigon với vùng biên giới Campuchia thuộc tỉnh Bình Long, với âm mưu biến khu vực này thành bàn đạp, tiến chiếm Saigon. Bắc Việt đã huy động một lực lượng hùng hậu, quân số gấp bốn lần quân trú phòng, tấn công mãnh liệt với sự yểm trợ của xe tăng và đại pháo.
Sau 7 đợt tấn công, kéo dài gần hai tháng, mất hàng chục ngàn quân, chưa kể hàng chục ngàn lính bị thương, cuối tháng 5 năm 1972, Bắc Việt phải tháo lui.
Trong mùa hè năm 1972, người miền Nam quen gọi là “Mùa hè đỏ lửa”, Bắc Việt xua quân tràn qua biên giới Việt – Lào và khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17 chia cắt hai miền, để tấn công Quảng Trị-Huế. Sư đoàn 3 Quân đội Việt Nam Cộng Hoà thoái lui và tan rã trước sức tấn công của 5 sư đoàn quân miền Bắc và nhiều trung đoàn xe tăng, phòng không, đại pháo, hoả tiễn đủ loại. Đến tháng 5 năm 1972 thì quân Bắc Việt chiếm được toàn bộ Quảng Trị.
Giữa tháng 6, Quân lực Việt Nam Cộng hòa khởi sự phản công. Đầu tháng 7 năm 1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa phản công để tái chiếm Quảng Trị- Đông Hà.

Tái chiếm thành Quảng Trị. Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh
Cuộc chiến 81 ngày giành lại thị xã và thành cổ Quảng Trị trở thành trận đánh ác liệt nhất trong “Mùa hè đỏ lửa”. Hai sư đoàn dũng mãnh nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hoà là Nhảy dù và thuỷ quân lục chiến làm lực lượng tấn công chính.
Một Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù Việt Nam Cộng hoà từng tham chiến tại Quảng Trị thuật trận đánh Cổ Thành đầu tiên, nổi bật tinh thần chiến đấu của đoàn quân Mũ đỏ. Ông thuật lại: tiểu đoàn của ông đi vòng lên hướng đông bắc (xử dụng lối đánh vào ban đêm), bí mật nhổ hết chốt địch dọc đường, bất ngờ đánh vào làng Tri Bưu, và áp sát cửa Tả của cổ thành sau 18 ngày tấn kích liên tục qua những biển chốt phòng thủ của quân Bắc Việt. Ông nói tiếp lúc quân Việt Nam tràn qua bức tường thành:
“Trái bom tinh khôn gây một tiếng nổ bất ngờ, rung chuyển mặt đất, khoét một lỗ có đường kính khoảng 2m trên bức tường thành, đất đá ào ào đổ xuống hào nước rộng 20 mét cho quân tấn công chạy qua, trông như một phép lạ. Đại đội 51 tràn qua lỗ hổng đó vào bên trong… Tiếng súng M-16, M-60, M-79 vang động rõ mồn một. Đại đội 52 lập tức xông vào tiếp. Binh sĩ đại đội 51 đang ruợt bắn địch quân trên tường thành. Mọi thứ diễn ra y như kế hoạch đã định. Máy bay A 37 đánh hai trái bom rất chính xác, ngay cột cờ. Nhưng chiếc Phantom sau lại đánh theo màn khói bom trước đã trúng mục tiêu vừa bị gió tạt ngang đầu quân bạn, gây tổn thất nặng nề cho hai đại đội nhảy dù đang xung phong, làm tiêu tan sức chiến đấu...
Cuối cùng các chiến sĩ mũ xanh thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam Cộng hoà đã làm nên lịch sử. Họ đã dựng lại lá cờ vàng của miền Nam Việt Nam trên cổ thành vốn đã đẫm máu của vô số chiến sĩ đã hy sinh vì chính nghiã tự do và dân chủ cho quê hương của họ.”
Đó là lời của một cựu sĩ quan, thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù, một đơn vị tham gia chiến dịch phản công ở Quảng Trị.
Tất cả những chiến công đó là một phần của lịch sử mà không ai có thể xóa bỏ bởi nó đã được xây dựng bằng xương máu của những người lính Việt Nam Cộng hoà, trong hoàn cảnh hết sức cam go, cả trong lúc có sự tham dự trực tiếp của lực lượng Hoa Kỳ, lẫn khi không còn lực lượng này hỗ trợ.
Tuy nhiên, sang năm 1973, tình hình chiến trường Việt Nam có nhiều thay đổi bất lợi cho phía Việt Nam Cộng hoà. Việt Hà sẽ gởi đến quý thính giả những diễn biến từ năm 1973 đến năm 1975 trên mặt trận quân sự và ngoại giao. Mời quý vị theo dõi trong buổi phát thanh tới.
Quỳnh Như tường trình từ Hoa Thịnh Đốn.
*********************************************
BƯỚC ĐẦU TRẢ LẠI DANH DỰ CHO VIỆT NAM CỘNG HÒA

Toàn cảnh buổi hội thảo Việt Nam-35 Năm Nhìn Lại. (Hình: Hà Giang)
Bước đầu trả lại danh dự cho Việt Nam Cộng Hòa
Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" tại Washington D.C: 'Theo thời gian, sự thật lịch sử sẽ được phơi bày'
Source: Người Việt Online
Hà Giang/Người Việt (từ Washington D.C.)
WASHINGTON D.C. – Sáng sớm ngày 9 tháng Tư, gần 200 người, trang phục chỉnh tề, tụ tập tại phòng họp lớn của Câu Lạc Bộ Hải Quân Hoa Kỳ, tọa lạc trên đường 17th Street Northwest, ngay trung tâm thủ đô.
Họ là những người Mỹ gốc Việt, sử gia, học giả, chính trị gia, giáo sư các trường quân sự, cựu quân nhân và sĩ quan các cấp, cựu đại sứ, cố vấn, của hai quốc gia Hoa Kỳ, và Việt Nam trước đây (VNCH).
Họ đến từ nhiều nơi, từ California, Canada, Florida, Texas… để tham dự cuộc hội thảo có tên: “Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại” (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”).
Họ đến để cùng nghe, cùng tìm hiểu và cùng nói lên sự thật về “Chiến Tranh Việt Nam,” cuộc chiến đã gây không biết bao nhiêu tranh cãi, và ngộ nhận trong suốt 35 năm qua.
Những ngộ nhận và những sự thật về cuộc chiến này là gì? Lý do nào thực sự khiến Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ thua trận?
Mở đầu buổi hội thảo, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm, nói: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bày.”
“Thời gian thật lâu,” là bao lâu? Ba mươi lăm năm có thể được xem là “đủ lâu?”

Cựu Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ trong cuộc hội thảo Việt Nam – 35 Năm Nhìn Lại: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bầy.” (Hình: Hà Giang)
Tiến sĩ Stephen Randolph, cựu đại tá không quan Hoa Kỳ, hiện là phó khoa của Đại Học Không Quân Quốc Gia, tác giả cuốn sách có tên: “Powerful and Brutal Weapons: Nixon, Kissinger, and the Easter Offensive,” do Havard University Press xuất bản, cả quyết: “Năm 1972, trong một cuộc gặp gỡ tại Tòa Bạch Ốc, Henry Kissinger báo cho tổng thống Johnson biết là tình báo Hoa Kỳ khám phá rất nhiều xe vận tải chứa vũ khí tối tân tại miền Bắc Việt Nam, tiêu hủy những chiếc vận tải này là việc rất dễ, nhưng nếu chậm trễ để cho chỉ một chiếc xe vận tải này lọt vào Việt Nam thôi, thì Nam Việt Nam sẽ khốn đốn.”
Cũng theo lời tiến sĩ Stephen Randolph, thì Henry Kissinger nói rằng tổng thống Johnson lúc đó “băn khoăn, đi ra đi vào mãi” mà không quyết định được, lý do là vì Hoa Kỳ sắp hội thảo với Bắc Kinh trong vòng mười ngày nữa.
Cuối cùng, Tổng Thống Johson quyết định làm lơ với tin tình báo này.
“Tổng thống (Johnson) sợ là phá hủy vũ khí của Bắc Việt sẽ ảnh hưởng không tốt đến tương quan với Bắc Kinh.”
Tiến sĩ Stephen Randolph kết luận, rằng Việt Nam và Hoa Kỳ thua cuộc “là vì lý do chính sách,” và vì Hoa Kỳ lúc đó “has bigger fish to fry” (đang câu con cá lớn hơn).
Ngậm ngùi, ông nói: “Đây là nhận thức mà tôi biết rằng sẽ ám ảnh tôi cho đến suốt cuộc đời.”
Ngoài một vài tiếng thở dài, cả phòng họp dường như yên lặng sau lời tâm sự của ông.
Cuộc hội thảo hoàn toàn bằng Anh ngữ cũng đã dẫn cử tọa đi ngược thời gian, chứng kiến những trận đánh quan trọng của chiến tranh Việt Nam, qua lời kể của những nhân chứng sống, cũng như những tài liệu tham khảo, trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, trận chiến An Lộc, kỳ công tái chiếm cổ thành Quảng Trị.
Bằng giọng kể vừa linh hoạt vừa đầy xúc cảm, Trung Tá (Lieutenant Colonel) biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, lãnh đạo của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vẽ lên một cách sống động trận chiến An Lộc, mà tiến sĩ Jim Willbanks cho là “trận đánh quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam.”
“Thời điểm 1972, Bắc Việt rất tin là họ sẽ chiếm được miền Nam, vì chính sách “Việt Nam Hóa” chiến tranh của Hoa Kỳ đã cho Bắc Việt nhiều lợi thế, cả về quân sự lẫn chính trị.”
“Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn phương chống cự với một đạo quân đông gấp bội, và hỏa lực ngày càng hùng hậu và tối tân do Nga và Tàu cung cấp.”
Trung Tá Nguyễn Văn Lân nói.
“Thế nhưng, lòng quả cảm của quân đội VNCH đã khiến chúng ta đẩy lui được quân Bắc Việt, dù phải chịu thiệt hại nặng nề.”
Chỉ lên tấm hình một nghĩa trang ngút ngàn thập tự giá, Trung Tá Nguyễn Văn Lân chia sẻ: “Không gì đau lòng hơn cảnh nhìn các binh sĩ của mình tìm cách chôn cất đồng đội, trong khi chính bản thân họ cũng đang cận kề cái chết.”
Rồi ông đọc một câu thơ do một phụ nữ trong vùng làm tặng các chiến sĩ bỏ mình vì thương cảm trước hoàn cảnh bi đát của họ:
“An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Kích Dù… vị quốc vong thân…”
Cử tọa xúc động khi ông nghẹn lời, run giọng, không đọc rõ nổi bốn chữ “Vị Quốc Vong Thân.”
“Đã đến lúc phải trả lại sự thật cho lịch sử. Chúng ta phải cho các thế hệ con cháu biết là cha ông chúng đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đất nước, để họ không bao giờ phải hỏi tại sao chúng ta đã thua trận. Chúng ta không thể để cho những người đã nằm xuống phải tức tưởi.”
Ông kết luận.
Nếu lòng quả cảm, ý chí bảo vệ bờ cõi đến giọt máu cuối cùng, và sự hy sinh anh dũng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bên cạnh đồng minh Hoa Kỳ được làm sáng tỏ, thì mặt khác, cử tọa cũng được các diễn giả cho thấy rõ quyết tâm tiến chiếm Miền Nam của quân đội miền Bắc, bên cạnh sự hỗ trợ ngày càng cao của hai nước Nga Sô và Trung Quốc.
Giáo sư kiêm học giả Nguyễn Ngọc Bích trình bày cuộc thảm sát, rằng Bắc Việt “chối bỏ cáo buộc là chính họ ra lệnh cho cuộc tổng tấn công và thảm sát,” và “đổ tội cho những hành động riêng lẻ của cấp dưới.”
Ông cũng nói đến vai trò của giới truyền thông trong việc tạo nên những ngộ nhận về cuộc chiến, qua biến cố Mậu Thân, “cuối cùng dẫn đến quyết định bỏ rơi Việt Nam của Tổng Thống Johnson.”
Trong một buổi hội thảo có mặt của biết bao nhân vật có tầm cỡ của cả hai chính quyền, sự có mặt và phần trình bày của thứ trưởng John Negroponte được nhiều người chú ý nhất, và ông cũng là người được nhiều người và các cơ quan truyền thông đặt câu hỏi “hóc búa” nhất.
Trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt, rằng ông nghĩ gì về nhận định cho rằng việc Mỹ bỏ rơi đồng minh đã dẫn đến việc thua trận của họ và miền Nam Việt Nam, ông trả lời: “Hoa Kỳ đã hỗ trợ Việt Nam từ năm 1950 cho đến năm 1975, khi đã hỗ trợ nhau một thời gian dài như thế thì không thể gọi là bỏ rơi được. Chỉ là vấn đề lúc đó Tổng Thống Johnson đã quá kiệt sức, không “deal” nổi với cuộc chiến đó nữa.”
“Nên nhớ là sau đó Johnson quyết định không tái ứng cử nữa. Ông đã quá mệt mỏi!”
Cuộc hội thảo có sự góp mặt của một danh sách hùng hậu nhiều diễn giả có tầm vóc, và các nhân chứng sống của cuộc chiến như: Sử Gia Dale Andrade (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, người đã viết ba cuốn sách về cuộc chiến Việt Nam: “Ashes to Ashes: The Phoenix Program and the Vietnam War”, “Spies and Commandos: How America Lost the Secret War in North Vietnam”, and “America’s Last Vietname Battle: Halting Hanoi’s 1972 Easter Offensive”), Tiến sĩ John Carland (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, và là một chuyên gia nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam), ông Hoàng Đức Nhã (cựu Bộ trưởng bộ Thông Tin VNCH), Đại Tá Cảnh Sát Trần Minh Công, Đại Tá Hoàng Ngọc Lung…
Nhiều người tham dự ra về trong tiếc rẻ, vì khó có thể tóm tắt quá nhiều sự kiện quan trọng của một cuộc chiến đã làm thay đổi bàn cờ thế giới trong vòng một ngày, nhưng ai cũng đồng ý, đây là bước đầu trong việc trả sự thật cho lịch sử, và danh dự cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh, cũng như ghi ơn những người đã nằm xuống.
(Người Việt sẽ lần lượt giới thiệu chi tiết nội dung hội thảo trong các số báo tới).
***************************************
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA SAU HIỆP ĐỊNH PARIS

Buổi hội thảo "35 năm nhìn lại: Trả lại sự thật cho lịch sử" diễn ra vào ngày 9 tháng 4, tại câu lạc bộ quân đội và hải quân ở Washington DC - RFA photo.
Việt Hà, phóng viên RFA - 2010-04-12
Ngoài những thắng lợi mà quân lực Việt nam cộng hòa đã đạt được trước khi Hiệp định Paris được ký kết, Việt Hà gửi đến những diễn biến sau Hiệp định Paris.
Mỹ cắt giảm viện trợ
Bắt đầu từ năm 1972, chiến trường Việt nam có nhiều thay đổi gây bất lợi cho phía Việt nam cộng hòa. Đó là những thay đổi cả về mặt ngoại giao lẫn quân sự.
Cựu đại sứ Bùi Diễm của Việt Nam cộng hòa tại Mỹ và là thành viên của đoàn đàm phán tại hòa đàm Paris nói về bối cảnh từ năm 1973 đến 1975 như sau: Một mặt, chúng ta thấy Hà Nội kiên quyết đi theo kế hoạch của họ để tấn công miền Nam mà không đếm xỉa gì đến hiệp định Paris. Họ nhận được viện trợ khổng lồ từ Liên xô và Trung Cộng. Còn Sài gòn ở thế thủ, không biết chính xác là mình có thể trông chờ gì ở viện trợ nước ngoài.
Hoa kỳ thì đã mệt mỏi về cuộc chiến và tê liệt vì vụ Watergate. Vì thế nước Mỹ tìm cách thoát khỏi sự rối rắm tại đông nam Á, lờ đi sự hy sinh của hơn 58,000 người Mỹ đã chết tại Việt Nam.
Lúc này, đại sứ Bùi Diễm phải thực hiện một sứ mệnh khác mà tổng thống Thiệu giao là sửa đổi một phần bản thảo hiệp định Paris, vốn có nội dung bất lợi cho Việt nam cộng hòa. Đó là sự có mặt của quân đội miền Bắc trên lãnh thổ miền Nam. Tổng thống Thiệu nói điều này với ông dù biết là đã quá muộn. Chưa kể vấn đề viện trợ của Mỹ cho Việt nam cộng hòa cũng trở thành vấn đề nóng hổi.
Đại sứ Bùi Diễm nhớ lại, lúc đó ông đi lại như con thoi giữa Washington và Sài gòn để thuyết phục người Mỹ đừng quên mục đích cuộc chiến, nhưng dường như không có ai trong hệ thống quyền lực ở Washington lúc đó muốn nói chuyện với ông, đặc biệt là về viện trợ cho Việt Nam.
Theo đại sứ Bùi Diễm, viện trợ của Mỹ cho Việt nam Cộng hoà vào năm 1973, đã giảm từ 2,1 tỷ đô la xuống còn 400 triệu đô la, giữa lúc giá nhiên liệu và hàng hóa đang tăng.
Về mặt quân sự, Bắc Việt có thêm những ưu thế so với miền Nam. Đại tá Hoàng Ngọc Lung, lúc đó là trưởng phòng hai của bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam cộng hòa cho biết:
Trong hòa đàm Paris, cộng sản Việt nam đã có ưu thế, trong khi hội đàm, mật đàm song phương với Hoa Kỳ nên đã biết được thỏa hiệp Paris thế nào và ngày ký kết đầu tiên dự định là 27 tháng 10 năm 1972. Đầu tháng 10 năm 1972, cộng sản Việt nam ở miền nam Việt nam bắt đầu học tập về bản thỏa thuận từ cấp huyện, vì biết trước ngày ký kết nên cộng sản đã dự trù kế hoạch chiếm đất, giành dân và lật đổ chính quyền Việt nam Cộng hòa, ngay trong ngày đầu tiên của hiệp định Paris. Tuy nhiên cộng sản đã không thành công trong chiến dịch này.
Theo ông Lung, cũng trong thời gian này, cộng sản đã mở cuộc tổng tiếp vận, vận chuyển nhiều chiến cụ mới vào miền Nam Việt nam, tu bổ và bành trướng đường mòn Hồ Chí Minh, mở thêm hành lang xâm nhập mới vào năm 1973, gọi là hành lang Trường Sơn, dài 900 cây số để vận chuyển 24 giờ mỗi ngày bằng xe. Ngoài ra Cộng sản cũng thiết trí hai hệ thống dẫn dầu vào miền Nam để tiếp liệu cho hoạt động quân sự của mình.
Tình hình thay đổi nhanh chóng
Trong khi đó, từ năm 1972, lực lượng quân sự của Việt nam cộng hòa và lực lượng đồng minh bắt đầu sụt giảm.
Ông Hoàng Ngọc Lung nói: Năm 1972, lực lượng quân sự của Việt Nam cộng hòa, của Hoa kỳ và đồng minh là 22 sư đoàn, sau hiệp định Paris chỉ còn 13 sư đoàn bộ binh Việt nam. Trong khi đó nhiệm vụ phòng thủ lãnh thổ miền nam vẫn như cũ, quân viện của Hoa kỳ bị cắt giảm tối đa.

Ông Hoàng Ngọc Lung tại buổi hội thảo ngày 9/4/2010. RFA photo
Cuối năm 1974, tương quan lực lượng ưu thế đã nghiêng về phía cộng quân, vì chi viện của Nga Xô và Trung cộng tăng gấp đôi so với năm 1972. Cộng quân hơn hẳn về chiến xa, đại bác, đạn dược, nhiên liệu, lực lượng tổng trừ bị.
Tình hình miền Nam xấu đi rất nhanh kể từ cuối năm 1974, Đại sứ Bùi Diễm nhớ lại: Khoảng cuối năm 1974, tình hình trở nên xấu đi nhanh chóng. Trên mặt trận quân sự, việc Hà nội chuẩn bị cuộc một cuộc tấn công mới đã rõ ràng. Bộ chính trị nhìn nhận việc Nixon từ chức là một dấu hiệu cho thấy Mỹ không thể quay lại và thử tấn công Phước Long vào tháng giêng, không có phản ứng nào từ phía Mỹ. Và thế là họ bắt đầu tấn công thật sự vào Ban Mê Thuột.
Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ vào ngày 10 tháng 3 năm 1975 là việc mất các thành phố lớn khác ở miền Nam, rồi kết thúc ở Sài gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đại sứ Bùi Diễm đã không cầm được nước mắt khi nhớ lại biến cố lịch sử này. Ông nói: Sâu thẳm trong tim tôi, lúc đó, tôi biết rằng có một câu hỏi quan trọng không liên quan đến sự đáng tin cậy của người Mỹ cũng như khả năng của các lãnh đạo Sài gòn.
Câu hỏi quan trọng đó trong tâm trí tôi là cuộc sống của hàng triệu người Việt nam sẽ ra sao một khi quốc hội Mỹ đã quyết định như vậy. Cuộc sống của con cái họ và những đứa con của con cái họ. Đó là vấn đề chính. Nhưng trong năm 1975, đây không phải là vấn đề có thể hy vọng làm cơ quan lập pháp của Mỹ động lòng.
Tôi không thể cầm lòng mình trước sự thiếu công bằng đó. Và trong ngôi nhà nhỏ của tôi ở Washington DC, không thể cầm lòng, tôi khóc!
35 năm sau cuộc chiến Việt Nam, liệu người Mỹ đã học được những gì từ cuộc chiến này và tương lai quan hệ Việt Mỹ sẽ ra sao? Việt Hà sẽ quay lại chủ đề này trong bài kế tiếp.
04/12/10. 06:16:37 pm. 7696 words, 100 views. Categories: Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Lịch sử thế giới, Tin tức ðó ðây, Thời cuộc, Chiến tranh và hòa bình, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,
LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ GẶP BÀ PHÓ ĐẠI SỨ HOA KỲ TẠI VIỆT NAM

Hình 1
Linh mục Nguyễn Văn Lý gặp bà Phó Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
Source: Nữ Vương Công Lý, Mẹ Hằng Cứu Giúp
Vào lúc 13g15 ngày hôm qua, 23-03-2010, Bà phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Virginia E. Palmer, cùng với một thông dịch viên tên Đức đã đến thăm gặp linh mục Nguyễn Văn Lý, đang được tạm tha để điều trị tại Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, 64 Phan Đình Phùng, Huế. Đưa hai vị này tới là hai nhân viên sở ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên Huế và hai nhân viên công an.
Sau khi chào hỏi, cha Lý mời bà phó đại sứ và thông dịch viên vào phòng. Hai nhân viên ngoại vụ ra ngồi chờ ngoài sân còn hai nhân viên công an đứng bên ngoài phòng linh mục, sát cửa để nghe lén (và có thể là ghi âm lén - xem hình 1 ở trên).
Bà phó đại sứ cho biết mục đích thăm viếng: vấn an sức khỏe của linh mục Lý và hỏi cho biết tòa đại sứ lẫn chính phủ Hoa Kỳ có thể giúp linh mục như thế nào trong lúc này?
1- Về tình trạng sức khỏe, cha Lý mô tả tương đối rõ ràng: cao huyết áp, tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch cảnh, xuất hiện khối u sau ót… Cha còn nói thêm: Xin quý vị hoàn toàn yên tâm là nhà cầm quyền Việt Nam không dám đưa tôi vào lại trại giam sau 12 tháng tạm tha này, vì sau lúc bị tai biến lần 3 (15-11-2009), khi đang trong quá trình cấp cứu, tôi đã tuyên bố với họ rằng nếu tôi bị tai biến lần 4 thì sẽ khước từ cấp cứu và điều trị. Cho nên sang năm, nếu họ lại muốn đưa tôi vào trại giam, tôi sẵn sàng vào, nhưng họ phải biết rằng tôi sẽ khước từ điều trị và cấp cứu nếu bị tai biến lại.
Tiếp đó linh mục Lý xin cảm ơn tòa đại sứ, tòa lãnh sự, chính phủ, quốc hội, bộ ngoại giao Hoa Kỳ cùng một số chính khách Mỹ như thượng nghị sĩ Sam Brownback, dân biểu Chris Smith, dân biểu Loretta Sanchez…. vì đã quan tâm đến hoàn cảnh của linh mục và đã vận động cho linh mục trong thời gian qua. Cha Lý cho biết tiếp: nay thì có một số chính khách quốc tế, một số tòa đại sứ, một số tổ chức ở nước ngoài đã ngỏ ý đưa tôi ra ngoại quốc chữa bệnh rồi sẽ đưa về. Điều này phù hợp với ý định của nhà cầm quyền Việt Nam. Vì biết tôi còn 5 năm tù giam và 5 năm quản chế nữa, nên họ (nhà cầm quyền) đã khuyên tôi cứ chấp thuận ra ngoại quốc điều trị cho khỏe hẳn, để khoảng 80 tuổi rồi hãy trở về (chú thích: Lm Lý hiện nay được 64 tuổi). Xin cảm ơn tất cả Quý vị vì hảo ý đó, nhưng như thế là vô tình đi vào kế hoạch của nhà cầm quyền Cộng sản (Bà phó đại sứ cười). Nay giáo phận Huế và gia đình muốn tôi điều trị tại chỗ ( tòa TGM Huế ).

Hinh 2
2- Về những việc gì mà chính phủ và tòa đại sứ Hoa Kỳ muốn giúp linh mục Lý hiện giờ, thì cha cho biết:
a- Quý vị cố gắng tập trung giúp UNESCO, Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế biết rõ sự thật về ông Hồ Chí Minh ( chú thích: linh mục Lý từng gọi HCM là tay gian ác, tên lừa bịp siêu cao thủ ). Đừng úp mở chuyện này mà kéo dài sự sai lầm rất tai hại cho dân tộc tôi. Tôi thấy mình có nhiệm vụ trả lại sự thật nguyên vẹn về ông Hồ cho đồng bào Việt Nam (chú thích: đây cũng là điều mà một linh mục khác là cha Nguyễn Hữu Lễ đã làm qua cuốn phim tài liệu “Sự thật về HCM” và cũng là một trong ba tôn chỉ của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận mà linh mục Lý là đồng sáng lập: vạch trần mặt thật HCM)
b- Quý vị vận động làm sao để chúng tôi có tự do ngôn luận. Quý vị cần nói to, nói rõ, nói ngắn, nói chính xác giữa Liên Hiệp quốc rằng Việt Nam chưa có thứ tự do này. Đây là điều rất quan trọng. Chúng tôi muốn các tờ báo của chúng tôi như Tổ quốc, Tự do Dân chủ, Tự do Ngôn luận được bày bán công khai (chú thích: ban biên tập báo Tổ Quốc thời gian gần đây bị sách nhiễu và hăm dọa, đặc biệt là tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang và bác sĩ Phạm Hồng Sơn). Nếu chưa được thế thì ít nhất quý vị hãy nói với nhà nước Việt Nam rằng đừng bắt những ai đọc các tài liệu như vậy. Chúng tôi thấy có nhiệm vụ trước mắt là làm sao cho người dân được tiếp cận các loại thông tin trung thực về tự do dân chủ mà không bị bắt bớ, không bị quấy nhiễu. Quý vị hãy nói to trước các diễn đàn quốc tế là Việt Nam lạc hậu vô cùng về tự do ngôn luận, thua thời Các Mác tại Anh cách đây 160 năm, thua thời nhóm Nguyễn Ái Quốc tại Paris cách đây gần 100 năm, thua thời cụ Huỳnh Thúc Kháng tại An Nam cách đây hơn 80 năm. Tất cả họ đều làm báo phê phán chế độ đương thời mà không hề bị bắt!
Trước câu lưu ý của bà phó đại sứ (“Hàng năm, bản báo cáo của chúng tôi về nhân quyền tại Việt Nam đều có đề cập đến chuyện ấy”), linh mục Lý trả lời: Nói dài, nói nhiều có khi không hữu ích và hiệu quả bằng nói ngắn và nói rõ giữa các diễn đàn toàn cầu: Tự do ngôn luận tại Việt Nam thua cộng đồng quốc tế cả hàng trăm năm!
c- Quý vị cố gắng giúp chúng tôi tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội cộng sản năm 2011 cho thật hiệu quả. Đây là một hình thức dân chủ giả hiệu và áp đặt, hoàn toàn không giống như các cuộc bầu cử Quốc hội ở những nước dân chủ tự do. Giúp như thế là quý vị giúp tôi chữa lành khối u sau ót tôi đây này ! Phần Khối 8406 của chúng tôi thì cũng sẽ lên kế hoạch tẩy chay nó cách quyết liệt. (Chú thích: trước cuộc bầu cử Quốc hội năm 2007, Khối 8406 và nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền đã có nhiều văn thư kêu gọi tẩy chay nó cũng như nhiều thành viên đã thực sự tẩy chay nó trong chính ngày nó được tổ chức, 20-05-2007).
3- Linh mục Lý cũng nhân cơ hội trình bày cho bà phó đại sứ rõ nguyên tắc đấu tranh bất bạo động của các chiến sĩ hòa bình dân chủ tại Việt Nam: Một chiến sĩ hòa bình dân chủ nếu biết cách đấu tranh bất bạo động thì sẽ mạnh gấp nhiều quân đoàn. Cộng sản hiện nay không còn dám cắt lưỡi các nhà đấu tranh bất bạo động như thời linh mục Jerzy Popieluszko bên Ba Lan hồi 1984 vì CS sợ họ. Chiến sĩ hòa bình nói, đối phương cũng sợ; viết, đối phương cũng sợ; khóc, đối phương cũng sợ; cười, đối phương cũng sợ; im lặng, đối phương cũng sợ; sau cùng chết thì đối phương càng sợ (Bà phó đại sứ ngắt lời: Không chết đâu! không chết đâu!). Trên đấu trường, hai đấu sĩ nhìn nhau. Các chiến sĩ hòa bình dân chủ nhìn thẳng đối phương là hàng chục triệu cán bộ, hằng mấy triệu đảng viên với tấm lòng không sợ hãi thì đối phương phải hãi sợ họ. Tại sao người chiến sĩ dân chủ không sợ? Vì họ không đi tìm gì cả ngoài tình thương, sự thật và lẽ phải! Tình thương, sự thật và lẽ phải này như lửa. Nhà tù với số lượng bao nhiêu và với tường dày bao nhiêu cũng chỉ là giấy, không gói được lửa! Trong trại giam lửa vẫn bừng cháy, ra ngoài lại càng bừng cháy. Một bạo quyền độc đoán thì phải thua ngọn lửa ấy mà thôi!
Người chiến sĩ hòa bình dân chủ phải vô úy (không sợ hãi), vô cầu ( không xin xỏ ), vô thủ (không cần đề phòng, vì đấu tranh công khai, quang minh chính đại, ai rình nghe cũng mặc), vô ngã (không tìm cái lợi cho mình), vô biệt (không phân biệt quốc gia hay cộng sản, da trắng hay da vàng, Phật giáo hay Công giáo, ai đứng về phía lẽ phải và sự thật đều là đồng minh của mình). Khi có ngũ vô này rồi thì tức khắc có đệ lục vô, không nhắm nhưng sẽ phải đến, đó là vô địch! ( Bà phó đại sứ cười vang khoái chí ). Tôi chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng tôi biết mình vô địch vì nơi tôi không có hận thù. Đời tôi đã 64 tuổi nhưng tôi chưa ghét một người nào cả. Mấy lần bị cán bộ CS bắt giam, tôi đều nói: Các anh sợ mà bắt giam tôi thôi, nhưng đố các anh ghét tôi được! Tôi có làm chi phương hại, xúc phạm hay nguyền rủa các anh đâu mà các anh ghét. Trái lại tôi chỉ đọc kinh cầu nguyện cho các anh.
Tôi đi tù như vậy là 5 lần, riêng dưới chế độ này là 4 lần. Mỗi lần vừa vào tù, tôi đều quỳ cúi xuống hôn đất mà thầm nói: “Con xin nhận nhiệm sở mới” Nhiệm sở mới này không phải đức Giám mục bổ nhiệm tôi đến mà là Chúa Giêsu Kitô. Vì thế tôi coi ban giám thị, cán bộ trại và mọi tù nhân trong trại đều là giáo hữu mà tôi có bổn phận cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng cho. ( Chú thích: trong một lần tâm sự trước đây, linh mục Lý có cho biết ở trong tù cha luôn cầu nguyện cho các tay đồ tể của nhân loại như Lênin, Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pôn Pốt, Saddam Hussein, Bin Laden… Họ cần lời cầu nguyện vì họ bị nhân loại quên lãng do căm thù )… Đêm đầu tiên ở trại giam tôi ngủ bình thản như ở nhà, vì tôi coi trại là văn phòng, là nhiệm sở của tôi, tôi phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ ở đó cho tốt. Sang năm, nếu họ đưa tôi vào lại trại thì tôi thoải mái, sẵn sàng (Bà Phó đại sứ cười). Như mọi chiến sĩ dân chủ hòa bình, tôi có tình thương, sự thật và lẽ phải nên không sợ. Nhưng đằng sau lưng tôi là cả Triều thần Thiên quốc, có Thiên Chúa, có Đức Mẹ, có các thánh, rồi có hàng triệu các thai nhi bị trục giết mỗi năm mà tôi luôn bênh vực ( chú thích: trong các lần linh mục gặp gỡ cán bộ công an hay viết kiểm điểm về… chế độ ). Các em ủng hộ tôi, chuyển cầu cho tôi thì đảng CS làm chi tôi được!!!
Kết thúc, bà phó đại sứ Hoa Kỳ nói: “Tôi từng mong ước gặp được linh mục. Nay thấy linh mục trẻ trung, vui vẻ, ăn nói rất mạnh mẽ và rõ ràng. Rất hân hạnh. Xin hết lòng cảm ơn!”
Cuộc gặp gỡ kết thúc vào lúc 14g30 cùng ngày.
Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình dựa theo băng ghi âm.
Huế, 16g30 ngày 24-03-2010
THÀNH QUẢ 80 NĂM LÃNH ĐẠO CỦA ĐCSVN
03/30/10. 08:56:57 am. 2999 words, 164 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Thời cuộc, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
MỘT SINH VIÊN TẠI HÀ NỘI BỊ CÔNG AN LÉN BẮT VÀ TRA TẤN VÌ BẢO VỆ CÔNG GIÁO

Sinh viên Quang sau khi được băng bó vết thương.
Một sinh viên tại Hà Nội bị công an lén bắt và tra tấn vì bảo vệ Công giáo
Source: Hồn Việt
TUMASIC.TK - Mới đây, một cộng đoàn Công Giáo lớn mạnh ở thủ đô đã ra thông cáo phản đối công an Hà Nội đã lén lút bắt giữ và đem đi đánh đập tàn nhẫn đối với một sinh viên Công Giáo ngay trong lớp học buổi tối tối 15/03. Anh là sinh viên Vũ Hoàng Quang, là sinh viên tại chức của Học viện Tài chính. Sự việc xảy ra lúc 10h tối tại lớp học môn Toán Cao cấp (địa điểm trường Trung cấp dạy nghề số 10 – Bộ Quốc phòng tại số 101 Tô Vĩnh Diện, Quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội)
Theo như lời kể của anh Quang và thông cáo của cộng đoàn Công Giáo Vinh tại Hà Nội, khoảng 10 giờ ngày 15/3/2010 khi anh Quang đang trong lớp học môn Toán Cao cấp (địa điểm trường Trung cấp dạy nghề số 10 – Bộ Quốc phòng tại số 101 Tô Vĩnh Diện, Quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội) đã bị một nhóm người đi xe biển số xanh vào bắt đi trước sự chứng kiến của giáo viên và sinh viên trong lớp.
Anh bị trói tay chân, bịt mắt và đẩy lên xe bịt kín đưa đi đến một nơi bí mật. Anh Quang bị bịt mắt nên không biết nơi minh bị bắt giữ là chỗ nào.
Sau khi đến nơi, anh được cởi trói. Ngay lập tức, một nhóm công an đánh phủ đầu vào gáy và vào mặt anh Quang bằng dùi cui. Nhóm công an này ép buộc anh ký vào bản viết sẵn có nội dung như sau:
Công giáo là phản động, làm bất ổn anh ninh xã hội.
Công giáo tổ chức gây bạo động trong xã hội,
Công giáo luôn đấu tranh phản đối chính quyền.
Anh Quang đã không chấp nhận ký vào những điều áp đặt và bị tra tấn liên tục suốt cả đêm qua.
Vì không chịu kí vào những văn bản xúc phạm tôn giáo, xuyên tạc vô đạo đức đó, sau khi bị tra tấn như vậy, anh đã bị nhóm công an này đem ra một cánh đồng ở huyện Gia Lâm rồi vứt ở đó. Nếu không tự mình lê vào khu dân cư gần đó ( một ngôi làng ) không biết hiện tình anh sẽ ra sao.

Bạn bè vào bệnh viện chăm sóc sinh viên Quang.
Trong bản tuyên cáo, đại diện cộng đoàn Vinh đã khẳng định "Rõ ràng, hành động này đã được sự tiếp tay của nhà trường cho nhóm người này lộng hành bắt bớ, đánh đập sinh viên công giáo ngay trong trường Đại học."
Trong một xã hội hiện đại ngày nay, hành vi như trên của các cán bộ công an là một hành vi xã hội đen, vô tổ chức, vô pháp luật. Một chế độ pháp trị sẽ không thể dung thứ, bỏ qua những hành vi tấn công vào quyền con người, tấn công, xúc phạm thân thể con người như vậy. Đặc biệt, đây còn là hành vi nhằm mục đích xúc phạm, nhạo báng tôn giáo. Thế ký 21 không chấp nhận những con người với những hành vi như vậy, kể cả những ai chỉ đạo, tiếp tay và ủng hộ.
Đây là hành vi xúc phạm con người nhằm mục đích tôn giáo, chính trị của những cán bộ bảo vệ trật tự trị an xã hội.
Thả anh Quang ra cánh đồng mà không hề quan tâm sau khi đã tra tấn dã man là một hành vi vô nhân đạo.
Bị tra tấn dã man vì là người Công Giáo
Như đã nói, anh Quang bị đánh đập, đối xử vô nhân đạo như vậy là do anh không chịu kí vào những văn bản với nội dung chống đối Công Giáo, thóa mạ Công Giáo.
Bản tuyên cáo của cộng đoàn Vinh cũng nói thêm "Trước đó, anh Quang đã bị Công an nhiều lần sách nhiễu và gọi đi làm việc vì anh là người Công giáo. Anh đã nhiều lần phản đối sự thóa mạ và xuyên tạc tôn giáo trong quá trình giảng dạy của nhà trường tại đây."
Sinh viên Quang thuật lại sự việc
Một người giấu tên, khi được hỏi về sự việc này đã nói đây là hành vi "ngu xuẩn". Người đó nói "Chính quyền làm như vậy chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn

Bạn bè đến thăm anh Quang


Kể lại sự việc tối 15/03

Vết thương bụng do bị tra tấn tối 15/03

Các sinh viên Công Giáo cầu nguyện tại phòng của anh Quang
Hiện nay, cộng đoàn Công Giáo Vinh tại Hà Nội yêu cầu chính quyền và trường Đại học Tài Chính những vấn đề sau:
- Học viện Tài Chính phải chịu trách nhiệm trước việc bảo vệ an ninh của từng thành viên là sinh viên trong trường. Việc nhà trường đã tiếp tay cho nhóm người không rõ tung tích ngang nhiên vào khủng bố, bắt bớ đánh đập sinh viên trước sự chứng kiến của thầy giáo, sinh viên trong trường và bắt người trái phép là điều không thể chấp nhận được.
- Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội yêu cầu Học viện Tài chính trả lời rõ ràng: Ai đã trực tiếp bắt bớ, đánh đập sinh viên Vũ Hoàng Quang ngày 15/3/2010 và ai chịu trách nhiệm trước pháp luật về vấn đề này.
- Truớc mắt, Học viện Tài chính phải chịu trách nhiệm trong việc chăm sóc điều trị cho anh Vũ Hoàng Quang và yêu cầu cơ quan pháp luật điều tra làm rõ về hành động trái pháp luật này.
Đồng thời, người đại diện của cộng đoàn này cũng tuyên bố sẽ "Tố cáo trước cộng đồng quốc tế về hành động bắt giữ người trái pháp luật nhằm khủng bố các cá nhân dám chứng minh đức tin của mình". Cộng đoàn này ngờ vực "Phải chăng đây là sự kỳ thị, phân biệt tôn giáo đã và đang xảy ra trầm trọng trong các trường đại học và hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay?"
Mới đầu năm nay, mâu thuẫn giữa chính quyền Hà Nội với giáo xứ Đồng Chiêm cũng đã làm xảy ra một vụ hành hung thành viên của cộng đoàn Công Giáo Vinh tại Hà Nội.
Ngày càng nhiều những hành động thiếu thiện chí của chính quyền Hà Nội với Công Giáo.
Trái lại, cùng ngày 15/03, chính quyền tỉnh Hà Nam đã chấp nhận đề nghị của Tòa Tổng Giám Mục Huế và thân nhân gia đình linh mục Nguyễn Văn Lý để tạm thời trả tự do người tù nhân lương tâm này cho việc điều trị bệnh tật.
03/21/10. 07:57:07 am. 1792 words, 45 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn, Thông báo (F) ,