Archives for: April 2010

CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ NGÀY 30 THÁNG 4 DƯỚI MẮT TIẾN SĨ CÙ HUY HÀ VŨ

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (phải) và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ - Hình: Cù Huy Hà Vũ

Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4 dưới mắt Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
Source: VOA News

Huy Phương Thứ Năm, 29 tháng 4 2010

VOA: Thưa Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhiều người cho rằng trong chiến tranh Việt Nam người Mỹ không thua trận trên chiến trường mà thua tại sân nhà, do các làn sóng phản chiến trên các đường phố Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Một trong những người này là Tiến sĩ Roger Canfield đã nói như vậy trong một cuốn sách của ông ấy mới đây. Tiến sĩ nghĩ sao về nhận định này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoa Kỳ cho rằng họ can thiệp quân sự ở Việt Nam là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản mà Miền Bắc Việt Nam là “tiền đồn” ở Đông Nam Á trong bối cảnh chiến tranh lạnh. Vì vậy, việc Hoa Kỳ đã thua trong chiến tranh Việt Nam đương nhiên có nghĩa họ đã bại trận trước chủ nghĩa cộng sản, điều mà Nhà trắng và nhiều người khác hẳn không thể và không muốn chấp nhận.

Vậy cần phải có một lý giải khác về thất bại quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam và tôi cho rằng Tiến sĩ Roger Canfield đã đi theo hướng đó bằng cách cho rằng Hoa Kỳ thua trận là do người dân nuớc này phản chiến.

Quan điểm của cá nhân tôi là Hoa Kỳ đã thật sự thua trên chiến trường Việt Nam và các làn sóng phản chiến trên các đường phố New York, Washington… chỉ là hệ quả, phản ánh sự mất kiên nhẫn của người dân Mỹ, đặc biệt trước thiệt hại quá lớn về sinh mạng của lính Mỹ.

Thực vậy, ngoài con số hơn 300.000 lính Mỹ bị thương, số lính Mỹ chết trong “Chiến tranh cục bộ” từ 1965 đến 1968 tại Miền Nam Việt Nam là khoảng 58.000, gấp đôi số lính Mỹ chết trong chiến tranh Triều Tiên từ 1951 đến 1953, trong khi cộng sản Triều Tiên còn có sự hỗ trợ của gần 3 triệu lượt quân Trung Quốc.

VOA: Vậy theo ý ông chủ nghĩa cộng sản đã thắng Hoa Kỳ tại Việt Nam cách nay 35 năm?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Có một thực tế là Mỹ đã thua trận trước các lực lượng cộng sản Việt Nam nhưng điều này tuyệt nhiên không có nghĩa chủ nghĩa cộng sản đã thắng Mỹ.

Như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa cộng sản dưới màu sắc chủ nghĩa xã hội chưa bao giờ là một hiện thực ở Việt Nam bởi cho đến ngày hôm nay hệ tư tưởng ấy vẫn chỉ là “định hướng” như chính ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam thừa nhận.

Nói cách khác, tính ưu việt hay hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản mà Hoa Kỳ đại diện chưa bao giờ được chứng minh ở Việt Nam nên sẽ là quàng xiên khi nói rằng bên chiến thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam là hệ tư tưởng cộng sản. Sự sụp đổ ngoạn mục của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước chỉ có thể xác nhận quan điểm này của tôi.

VOA: Vậy theo Tiến sĩ, Hoa Kỳ thua trong chiến tranh Việt Nam là vì những lý do gì?

TS Cù Huy Hà Vũ: Phải khẳng định rằng không có sự giúp đỡ đắc lực của Liên Xô và Trung Quốc thì khó có thể tưởng tượng nổi Hà Nội đã có thể giành chiến thắng trước Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phương tiện chiến tranh mà các lực lượng cộng sản Việt Nam nhận được từ hai cường quốc cộng sản này chắc chắn không thể bì được với phương tiện chiến tranh mà Hoa Kỳ sở hữu tại chiến trường cả về số lượng lẫn chất lượng.

Để nói rằng, sự giúp đỡ mà Liên Xô và Trung Quốc đã dành cho Việt Nam trong cuộc chiến với Mỹ là đặc biệt quan trọng nhưng rõ ràng không phải là nhân tố quyết định chiến thắng của Việt Nam.

Tất nhiên không ai có thể sửa lại được lịch sử nhưng theo tôi, lẽ ra đã không có chiến tranh Việt Nam và tất nhiên đã không có chuyện Hoa Kỳ thua trận nếu như siêu cường quốc này đã không cố tình mắc sai lầm trong đánh giá đối phương. Thực vậy, việc Hoa Kỳ bao cho Pháp đến 80% chi phí quân sự vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất rốt cuộc không cứu vãn nổi sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ vào năm 1954 ngay từ lúc đó đã chứng tỏ ưu thế về phương tiện chiến tranh không phải cái để bảo đảm chiến thắng trước những chiến binh Việt Nam cộng sản.

Nói cách khác, lẽ ra chiến tranh Việt Nam đã có thể tránh được nếu như trước đó Mỹ đã không ngộ nhận những người lính của Tướng Giáp là những rô-bốt của Trung Quốc và Liên Xô, hay lính đánh thuê cho chủ nghĩa cộng sản, nếu như Hoa Kỳ đã dụng công để hiểu người Việt.

VOA: Như vậy phải chăng ý Tiến sĩ muốn nói rằng muốn xử lý quan hệ với Việt Nam, thì điều kiện tiên quyết là phải hiểu người Việt? Nếu đúng vậy thì tại sao?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, Hoa Kỳ đã quy những người cộng sản Việt Nam và những người ủng hộ họ vào chủ nghĩa cộng sản, tức những người này được điều khiển bởi một hệ tư tưởng duy nhất là chủ nghĩa cộng sản. Sai lầm chết người của Hoa Kỳ chính là chỗ này: người Việt có hệ tư tưởng riêng của họ nên không còn chỗ cho hệ tư tưởng khác, mà ở đây là chủ nghĩa cộng sản, trú ngụ.

Hiểu như thế thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là phương tiện mà người Việt sử dụng để phục vụ hệ tư tưởng riêng của mình.

Như vậy, Hoa Kỳ vào Việt Nam là để đánh chặn hệ tư tưởng cộng sản nhưng thực tế lại phải giao chiến với hệ tư tưởng của người Việt, điều mà Hoa Kỳ không hề tính tới trước khi lâm trận nên thất bại là tất yếu.

VOA: Ông vừa nói người Việt có một hệ tư tưởng, vậy hệ tư tưởng đó là gì, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Việt Nam là một nước đa sắc tộc và người Việt chiếm tới 90% dân số, do đó cái tên Việt được các triều đại phong kiến Việt Nam dùng để chỉ cư dân và làm cơ sở để đặt tên nước như Đại Cù Việt, Đại Việt rồi Việt Nam.

Người Việt hiện nay còn được gọi là người Kinh. Còn tại sao có cái tên này thì chưa có nghiên cứu nào, từ điển nào đề cập. Nhưng theo tôi, cái tên “Kinh” là đặt theo tên của Kinh Dương Vương, thủy tổ của người Việt theo huyền sử và điều này chứng tỏ người Việt rất có ý thức về nguồn cội của mình.

Như vậy, có thể nói dân tộc Việt Nam là một dân tộc thuần Việt suốt chiều dài lịch sử và chính đặc điểm “thuần Việt” này đã hình thành cho người Việt tư tưởng Một dân tộc, Một quốc gia hay Dân tộc đồng nhất với Quốc gia, để từ đó đi đến nguyên lý bất di bất dịch: không thể có độc lập dân tộc thực sự với một quốc gia bị chia cắt về lãnh thổ, hay độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất lãnh thổ quốc gia, thống nhất đất nước.

Cũng phải nói rõ rằng sự hình thành của người Việt miền Nam Việt Nam là do di dân từ Bắc Việt Nam xuống. Thực vậy, năm 1611, Chúa Nguyễn Hoàng là bề tôi Nhà Hậu Lê, đã từ Thuận Hoá, tức là Quảng Trị - Thừa Thiên - Huế ngày nay, là nơi ông trấn thủ, thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên để mở rộng bờ cõi Đại Việt xuống phía Nam.

Do đó, cái gốc Bắc của người Việt Miền Nam bản thân nó đã là một sự kháng cự khủng khiếp chống lại mọi toan tính hay hành vi chia cắt miền Nam khỏi miền Bắc.

Nhà thơ Xuân Diệu, bác ruột và là cha nuôi tôi, trong cuộc diễn thuyết đầu tháng 12/1945 tại Hà Nội với tiêu đề không gì rõ hơn: “Miền Nam nước Việt và người Việt Miền Nam” kêu gọi thanh niên Miền Bắc gia nhập các đội quân Nam tiến để cùng “đồng bào” Nam bộ chống Pháp tái chiếm, đã nhắc tới cái đau đáu nguồn cội của những người Việt theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam bằng những câu thơ bất tử của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

Tóm lại, hệ tư tưởng của người Việt là Việt Nam là một thể thống nhất và vì vậy là sự phủ nhận chủ nghĩa ly khai. Tôi gọi hệ tư tưởng ấy của người Việt là chủ nghĩa Nhất thể Việt, tạm dịch là Vietnamunism, tương tự như chủ nghĩa Bài Ly Khai vậy.

Tôi cũng khẳng định rằng một dân tộc có hệ tư tưởng của riêng mình là bất diệt.

VOA: Lịch sử Việt Nam là sự đan xen của các cuộc chiến tranh vói nước ngoài và các cuộc nội chiến. Vậy liệu chủ nghĩa Nhất thể Việt hay chủ nghĩa Bài Ly Khai của người Việt mà ông vừa nói tới liệu có mâu thuẫn với các cuộc nội chiến không, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng là lịch sử Việt Nam không chỉ gồm các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và vệ quốc. Thế nhưng có một điều vô cùng đặc biệt và tưởng chừng mâu thuẫn là các cuộc nội chiến lại không dẫn đến sự chia cắt lãnh thổ mà ngược lại, củng cố sự thống nhất của quốc gia.

Thực vậy, các cuộc nội chiến đều nổ ra vào giai đoạn thoái trào của triều đình đương thời như một sự tất yếu để bầu chọn người lãnh đạo mới của quốc gia. Điều này là cốt tử đối với người Việt vì nếu không kịp thời thay thế triều đình suy vi thì Việt Nam sẽ là miếng mồi ngon cho phong kiến Trung Hoa. Nghĩa là “Nội chiến hay là Chết” trong bối cảnh Việt Nam luôn bị nước lớn phương Bắc này rình rập thôn tính.

Tóm lại, cần xem nội chiến như chất kháng thể có sẵn trong cơ thể quốc gia Việt Nam có chức năng can thiệp kịp thời để lành mạnh hoá cơ thể.

Cũng bởi đều nhằm tới sứ mạng quốc gia ấy nên không bên tham chiến nào có ý đồ cát cứ, ly khai dẫn tới chia cắt lãnh thổ quốc gia. Nghĩa là “được ăn cả, ngã về không” như cách nói dân gian và thỏa hiệp nếu có thì chỉ là tạm thời.

Điển hình cho quyết tâm nội chiến để duy trì và củng cố sự thống nhất quốc gia Việt Nam là Chúa Nguyễn Ánh. Sau khi đánh bại Chúa Trịnh rồi Triều Tây Sơn trong cuộc nội chiến nổ ra khi Triều Lê mạt vận, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế và để chứng tỏ thống nhất đất nước là mục tiêu tối thượng của cuộc chiến do ông tiến hành, đã ghép chữ đầu của Gia Định là thủ phủ Miền Nam với chữ cuối của Thăng Long là kinh đô Nhà Lê ở Miền Bắc để làm niên hiệu Gia Long.

Để nói thống nhất Bắc-Nam, thống nhất đất nước Việt Nam là vấn đề có tính lịch sử, là yêu cầu tối thượng của hệ tư tưởng của người Việt hay chủ nghĩa Nhất thể Việt và vì vậy là bất khả kháng. Do không hiểu được người Việt như thế nên Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự nhằm duy trì Vĩ tuyến 17 chia đôi Việt Nam và thất bại là cái giá phải trả.

VOA: Vậy theo Tiến sĩ, chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30/4/1975 là cuộc chiến của Hoa Kỳ hay là nội chiến giữa người Việt với người Việt?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Theo tôi chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ được bắt đầu từ cuối cuộc chiến tranh của Pháp tại Đông Dương khi Hoa Kỳ quyết định tài trợ 80% chi phí cho cuộc chiến tranh này như đã đề cập. Tuy nhiên cuộc chiến tranh này của Hoa Kỳ lại dẫn đến cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa những người Việt. Vì vậy nói chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến là không sai nhưng đó chỉ là một cuộc chiến trong một cuộc chiến khác, cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ tiến hành.

Trên thực tế, giai đoạn sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam vào năm 1973 theo Hiệp định Paris được các chuyên gia quốc tế gọi là giai đoạn “Việt nam hoá” chiến tranh của Hoa Kỳ.
Chính vì vậy tôi cho rằng ngày 30/4/1975 là ngày kết thúc cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời cũng là ngày kết thúc cuộc nội chiến giữa những người Việt.

VOA: Ông nghĩ sao về cách diễn đạt của ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam và nguyên cả bộ máy tuyên truyền cho rằng ngày 30/4/1975 là “Ngày giải phóng Miền Nam” ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi nói “giải phóng Miền Nam” thì không thể không xác định giải phóng Miền Nam khỏi ai, khỏi cái gì.

Trước hết, chắc chắn không phải “giải phóng Miền Nam” khỏi sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30/4/1975 quân đội cộng sản nhận sự đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh, đó chưa kể Hoa Kỳ đã rút hết quân khỏi Miền Nam từ năm 1973 theo Hiệp định Paris.

Vậy chỉ còn khả năng “giải phóng Miền Nam” khỏi chế độ tư bản, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác – Lê nin. Tại thời điểm năm 1975 thì đúng là như vậy do có sự ngộ nhận của một bộ phận những người cộng sản Việt Nam, mà bằng chứng là các chiến dịch “cải tạo công thương nghiệp tư doanh” và “tập thể hoá nông nghiệp” trên cơ sở quốc hữu hoá cơ sở sản xuất, đất đai thuộc sở hữu tư nhân do chính quyền mới tiến hành ngay sau đó.

Tuy nhiên tại thời điểm hiện nay thì quan niệm đó chắc chắn không chỉ là lỗi thời mà còn là phản động theo đúng nghĩa đen của từ này vì ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã công khai đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

VOA: Ông có thể chứng minh điều này được không vì cho đến thời gian gần đây, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định với chủ nghĩa Xã hội?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Cốt lõi của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lê Nin là kinh tế Nhà nước chỉ huy hay kinh tế tập trung, kinh tế tư nhân được coi là “bóc lột người” bị loại trừ. Thế nhưng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phá sản tuyệt đối vào năm 1985 khi chính sách giá-lương-tiền của Chính phủ Việt Nam gây lạm phát tới 900%, dẫn đến kinh tế tư nhân hay kinh tế thị trường được Đảng cộng sản Việt Nam phục hồi tại Đại hội 6 của Đảng vào năm sau, 1986.

Nhưng phải đến năm 1990 thì chủ nghĩa tư bản mới được chính danh bằng Luật Công ty và doanh nghiệp tư nhân. Và Đại hội 10 của đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra cách đây 4 năm đã hoàn tất công cuộc phá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng cách chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân.

Ngoài ra, hai giai cấp được đảng Cộng sản Việt Nam coi là nòng cốt xây dựng chủ nghĩa xã hội và là đối tượng được hưởng sự chăm sóc đặc biệt của chế độ này là công nhân và nông dân, Búa và Liềm ấy, hiện nay trên thực tế lại thuộc những người cùng khổ của xã hội, tựa những gì mà Nguyễn Ái Quốc đã mô tả cách đây 90 năm trong báo Le Paria - Người cùng khổ.

Thực vậy, ở nhiều địa phương công nhân bị bóc lột và bị xúc phạm nhân phẩm thậm tệ, không có quyền đình công trên thực tế, còn nông dân thì bị chính quyền công nhiên chiếm đoạt đất đai, nguồn sống có thể nói là duy nhất của họ.

VOA: Nếu vậy tại sao ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lê nin, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Sở dĩ có chuyện ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam nói một đằng, làm một nẻo là vì họ sợ mất quyền lợi của bản thân. Thực vậy, nếu chính thức tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa xã hội thì Đảng cộng sản Việt Nam sẽ mất độc quyền lãnh đạo đất nước trong khi quyền lực lại là phương tiện làm giàu của đại đa số đảng viên có chức vụ.

Tóm lại, việc duy trì cho Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo đất nước không gì khác hơn là để phục vụ lợi ích phi pháp của một nhóm nhỏ trong Đảng cộng sản Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân trong đó có hàng triệu đảng viên cộng sản và vì vậy quyết không thể kéo dài hơn được nữa!

Do đó, để tránh cho ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam một sự sụp đổ như đã diễn ra với các chính thể cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều vì hành xử của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân đáng tiếc là vẫn đậm chất nông dân theo đó cách mạng đồng nghĩa với trả thù, phục hận, cách duy nhất là mau chóng thực hiện chế độ đa đảng, điều mà Hiến pháp Việt Nam chưa bao giờ cấm và bản thân Hồ Chí Minh người sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam đã chủ trương và thực hiện.

VOA: Nghĩa là Tiến sĩ cho rằng cách diễn đạt “Ngày giải phóng Miền Nam” theo ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và bộ máy tuyên truyền bây giờ là không đúng?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng như vậy và vì thế cần phải bỏ. Đó là chưa kể cách diễn đạt này dễ bị diễn giải thành “Miền Bắc thôn tính Miền Nam” và trong trường hợp đó lại trở thành mầm mống gây chia rẽ Bắc – Nam không chỉ trong nhân dân mà trước hết và ngay trong chính nội bộ những người cộng sản.

Mặt khác, không thể nào thực hiện được hoà hợp, hoà giải với những người Việt bên kia chiến tuyến như Nhà nước cộng sản Việt Nam chủ trương nếu Nhà nước này vẫn duy trì cách diễn đạt mang đậm chất “thắng – thua” như trên.

Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận tính lịch sử của ngày 30/4/1975 vì đó là ngày đất nước Việt Nam thống nhất sau 30 năm chiến tranh, độc lập dân tộc được Chính phủ Hồ Chí Minh mà phụ thân tôi, Cù Huy Cận là bộ trưởng thành viên, tuyên ngày 2/9/1945 đến lúc đó mới thực sự trọn vẹn.

So với những nước khác cũng bị Chiến tranh lạnh chia cắt thì đó dứt khoát là một kỳ tích của người Việt Nam. Thực vậy, mãi 14 năm sau bức tường Berlin mới sụp đổ còn bán đảo Triều Tiên thì chưa biết khi nào mới có thể chứng kiến Bàn Môn Điếm được tháo dỡ. Hoàn cảnh Trung Quốc và Đài Loan tuy có khác đôi chút, nhưng cũng vậy, chưa biết bao giờ mới chung một màu cờ.

Do đó “Ngày thống nhất đất nước” theo tôi là thích hợp nhất để diễn đạt ngày 30/4/1975 và cũng là trung thành với nguyên lý “Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất đất nước” của chủ nghĩa Nhất thể Việt hay hệ tư tưởng của người Việt.

VOA: Chúng tôi được biết vào tháng 3 vừa qua, Tiến sĩ có gửi lãnh đạo Nhà nước Việt Nam kiến nghị xây Đài tưởng niệm chung cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu bảo vệ Hoàng sa và Trường Sa, trong đó ông đề nghị tôn vinh các quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bằng cách công nhận họ là liệt sĩ. Xin ông cho biết mục đích khi ông đã đưa ra sáng kiến này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Thực lòng khi đưa ra Kiến nghị tôi không nhằm bất cứ mục đích chính trị nào mà chỉ đơn giản nghĩ rằng tất cả những ai đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đều có quyền được Nhà nước thay mặt nhân dân Việt Nam tri ân và tri ân một cách xứng đáng.

Trừ những kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam, không ai có quyền tước đoạt cái quyền thiêng liêng ấy của những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng sa, lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam.

Tất nhiên khi Kiến nghị này được Nhà nước Việt Nam nghiêm túc thực hiện thì đó sẽ là sự khởi đầu quan trọng cho hòa hợp, hoà giải giữa những người Việt từng ở hai bờ chiến tuyến.

Nhưng để có được hoà hợp, hoà giải dân tộc thực sự và bền vững thì Nhà nước Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về vấn đề này.

VOA: Ông có thể nói rõ hơn về chuyện thay đổi căn bản tư duy này, chẳng hạn thay đổi như thế nào, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoà hợp, hoà giải dân tộc là xuất phát từ lợi ích chung, lợi ích quốc gia nên dứt khoát không phải là sự ban phát của nhà cầm quyền mà phía bên kia là kẻ chịu ơn, không phải là sự tha thứ, khoan dung dành cho những đứa con hư biết hối lỗi như cách Nhà nước Việt Nam thể hiện bấy lâu nay.

Hoà hợp, hoà giải dân tộc là biết tôn trọng và tốt hơn nữa, biết nhân nhượng những quan điểm chính trị khác biệt, kể cả đối lập để phụng sự Tổ quốc Việt Nam một cách tốt nhất, hiệu quả nhất. Nói cách khác, hoà hợp, hoà giải dân tộc là chấp nhận chung sống của các quan điểm chính trị khác biệt

Cần lưu ý rằng chính sách đoàn kết toàn dân tộc mà Nhà nước Việt Nam luôn đề cao trước hết phải là đoàn kết chính trị, tức đoàn kết các quan điểm chính trị khác biệt bởi nếu cùng chính kiến thì cần gì phải đoàn kết.

Tổ quốc Việt Nam không của riêng ai và vì vậy sẽ là có tội nếu Nhà nước Việt Nam chần chừ hoặc tồi tệ hơn, không thực tâm thực hiện hoà hợp, hoà giải dân tộc để mọi người Việt bất luận chính kiến đều có cơ hội cứu nước trước nguy cơ Trung Quốc xâm lược Trường Sa nói riêng, lãnh thổ Việt Nam nói chung, rõ ràng hơn bao giờ hết!

Nhân đây một lần nữa tôi kêu gọi ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam bởi nếu không, Hoà hợp, hoà giải dân tộc sẽ lại trở thành Lừa dối dân tộc với hậu họa đã có thể nhìn thấy trước.

VOA: Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ về sự chân thành và thẳng thắn cũng như thời gian mà ông đã dành cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn này.

***********

ĐÔI LỜI GÓP Ý

Lại thêm một quan điểm lạ, dĩ nhiên là khá hơn "Tiến sĩ" vừa dỏm-vừa láu cá-vừa ngu Đỗ Ngọc Bích nhiều (y thị đã có một bài viết rác rưởi vô giá trị đăng trên trang Việt ngữ BBC mà Diễn Đàn Ái Hữu Ninh Thuận không đăng lại vì sợ làm dơ bẩn và làm mất giá trị của Diễn Đàn này), nhưng vẫn không đúng với sự thật lịch sử. Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ tuy có một lập trường và ý thức dân tộc nhưng lại rất phiến diện trong cái phạm trù "Nam tiến", không phù hợp với những gì thực sự đã diễn ra. Thực ra thì cộng sản lợi dụng dân tộc chủ nghĩa và những người quốc gia yêu nước tại miền Bắc làm lính xung kích cho cái gọi là chiến tranh "chống Mỹ cứu nước", tức là "chống xâm lăng", để mang lại chiến thắng cho người cộng sản, đảng cộng sản, và chủ nghĩa cộng sản; nhưng rủi thay cái chiến thắng mà cộng sản giành được tại Việt Nam cũng là cái chiến thắng sau cùng của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Chính cái chiến thắng đó đã đẩy cả hai triệu cái miệng đi khắp thế giới mà nói với mọi người rằng "chúng tôi đã phải chạy trối chết để trốn thoát khỏi cái địa ngục kinh hoàng cộng sản, chúng tôi là những nhân chứng sống đây, hãy nhìn gương chúng tôi đây mà tránh xa bọn cộng sản và đừng bao giờ theo bọn cộng sản", và chính những chứng nhân lịch sử đó đã góp phần trong cuộc đánh sập chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu và làm cho cộng sản quốc tế tan nát vô phương cứu chữa.

Bọn Việt cộng phải đổi mới về kinh tế để tự cứu mình, nhưng chúng vẫn là Việt cộng từ mấy thế hệ liên tục. Chúng đổi mới về kinh tế nhưng không đổi mới về chính trị, là cách mà chúng học đòi từ Trung cộng để duy trì và củng cố quyền lực, làm gì có chuyện cộng sản Việt Nam lại không phải là cộng sản. Những khuôn mặt ấy, những con người cộng sản ấy từ Hồ chí Minh đến Võ nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Duẫn, Võ văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh... đều là những kẻ đã dạy cho đàn em đấu tố cha mẹ mình, tàn sát đồng bào mình, tắm máu dân tộc mình. Nếu chúng không phải là người cộng sản thì là ai vậy? Chỉ lấy ví dụ như vụ thảm sát Mậu Thân chẳng hạn, để thấy rõ bản chất cộng sản tàn ác, chuyên chính của chúng. Chúng đã có khi nào nhận tội trước quốc dân đâu? Vậy chúng yêu nước, yêu dân tộc ở chỗ nào?

Cả miền Bắc chẳng qua bị bọn cộng sản lừa bịp, lợi dụng làm lính xung kích cho chủ nghĩa cộng sản núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu nước, liên tục tấn công đánh vào miền Nam, trong khi miền Nam chỉ lo phòng thủ nằm chờ địch tới thì đánh, không tới thì nghỉ, luận về chiến thuật chiến lược, miền Nam Việt Nam bị bó tay trong thế thủ trước một đối phương liên tục tấn công với cả một hậu phương hùng hổ không lo sợ bị tấn công. Chiến tranh mà như vậy thì đã thấy sự hơn thua từ lâu, nhưng không ngờ là miền Nam bị sụp đổ quá nhanh mà thôi!

Ngày 30 tháng 4/1975, chẳng phải là ngày thống nhất Bắc Nam, cũng chẳng phải là ngày giải phóng miền Nam, mà nó chính là ngày cộng sản xâm lăng và cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, và là ngày tang tóc của dân chúng miền Nam Việt Nam. Ngày đó không phải là ngày thống nhất nhân tâm mà là ngày phân rẽ nhân tâm, để rồi từ đó cha không còn tin con, vợ không còn tin chồng, không còn ai tin ai cả... và nếu như cái cột đèn mà có chân thì cũng đã bỏ nước mà ra đi từ lâu. Vậy thì thống nhất cái gì vậy? Chẳng lẽ việc xâm lăng cướp đoạt mọi thứ, vơ vét tất cả vào tay mình, tóm thu tất cả mọi thứ chở về miền Bắc, gom 3/4 dân miền Nam đưa vào khu kinh tế mới hay trại cải tạo, như thế gọi là thống nhất hay sao? Còn về những kiến nghị, đề nghị của Tiến sĩ Hà Vũ đối với những tên điếc, tham và ác cộng sản thì hãy chờ xem. Sớm hay muộn bọn chúng cũng sẽ nhốt ông vào tù, chỉ trừ phi ông là cò mồi đi mở lối thoát thân cho những tên tội đồ của dân tộc.

Kình Dương Đạo Nhân

KHUÔN MẶT "VIỆT KIỀU YÊU VIỆT CỘNG" CẦN ĐƯỢC SỞ THUẾ CHIẾU CỐ


Ông Phạm Văn Thủy (thứ hai từ trái sang) trong buổi trao tặng xe chữa cháy (ảnh do tổng lãnh sự VN tại Houston phổ biến).

Khuôn mặt "Việt Kiều Yêu Việt Cộng" cần được sở thuế chiếu cố

Source: TTO, vietnamnet, take2tango

Chúng tôi yêu cầu quý vị luật sư, quý vị chuyên ngành về thuế khóa trong cộng đồng người Việt quốc gia tại Hoa Kỳ nên điều tra hoặc tìm cách thông tri cho sở thuế liên bang và tiểu bang, và các cơ quan công lực để điều tra chiếu cố đến tên "Việt Kiều yêu Việt cộng này" và các hoạt động thương mại của y. Công ty của y trên danh nghĩa chỉ là một công ty nhỏ (xem các thông tin đính kèm bên dưới), vậy lấy đâu ra tiền để làm những việc rất tốn phí như vậy. Không chừng nguồn tài chánh của y có thể là do rửa tiền hoặc y là một kinh tài cho Việt cộng, dùng tiền do nhà nước Việt cộng cung cấp để thực hiện các mục đích do chúng hoạch định. Tất cả mọi nghi vấn khả dĩ đều có thể đặt ra để mang ra trước luật pháp những kẻ có hành vi bất chính và mờ ám, bất kể họ là ai. Trách nhiệm của chúng ta là phải báo cáo cho chính quyền sở tại các hoạt động mà chúng ta nghi ngờ là phi pháp.

Những bọn lợi dụng danh nghĩa tỵ nạn cộng sản để được định cư tại nước ngoài, nhưng thực chất bọn chúng chỉ là những kẻ ra đi vì lý do kinh tế, muốn sang Tây Mỹ để làm giàu rồi trở lại làm ăn hợp tác với cộng sản, những bọn này là những thành phần cực kỳ nguy hiểm vì chúng nằm vùng phá hoại hình ảnh của những người tỵ nạn chân chính và phá hoại cộng đồng người Việt quốc gia, những nạn nhân đau thương của chế độ cộng sản tàn bạo dã man. Theo định nghĩa "REFUGEE" của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) thì rõ ràng chúng đã man khai và lừa bịp thế giới. Không rõ các nhà luật gia trong cộng đồng người Việt tỵ nạn nghĩ sao về việc này, chúng ta có thể làm được gì để tống cổ bọn chúng về Việt Nam sống vĩnh viễn với bác đảng của chúng... và chờ đợi ngày bị cộng sản "lột truồng" như tên Trần Trường ngu dốt.

KDĐN

Báo Tuổi Trẻ trong số phát hành ngày thứ Năm, 01/04/2010, đã đăng một bản tin có liên quan đến Cộng Ðồng Người Việt Tị Nạn Cộng sản tại Houston Texas dưói tựa đề như sau: Một Việt kiều tặng 20 xe cứu hỏa cho VN.

Nguồn tin từ Tổng lãnh sự quán VN tại Houston ( Texas, Mỹ ) cho biết chiều 29-3, ông Phạm Văn Thủy (Việt kiều) cùng gia đình đã trao tặng cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy VN 20 xe cứu hỏa và đồ cứu hộ.

Có mặt tại buổi lễ, tổng lãnh sự VN tại Houston Lê Dũng đã cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình ông Thủy cho lực lượng phòng cháy chữa cháy của VN. Các xe cứu hỏa, cứu hộ sẽ được chuyển đến lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy của Bộ Công an, Công an TP.HCM và một số tỉnh khác.

Trong dịp này, một công ty của Mỹ có tên Lion Dell đã trao tặng đoàn công tác của Bộ Công an một số thiết bị phòng cháy chữa cháy.

Trước đó, ông Thủy từng tặng xe cứu hỏa cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy của Bộ Công an, Công an TP.HCM, Bình Dương và Ninh Bình (mỗi nơi hai chiếc).

Ông Thủy hiện là tổng giám đốc Công ty Sunrise Plastic có trụ sở tại thành phố Houston. Chi nhánh của công ty tại tỉnh Bình Dương, xí nghiệp Hừng Đông, đã hoạt động 12 năm nay.

(THANH TUẤN).....

Link tới các tin đã đăng về việc này:

Một Việt kiều tặng xe cứu hỏa cho lực lượng PCCC Việt Nam

Một Việt kiều tặng 20 xe cứu hỏa cho VN

Một Việt kiều Mỹ tặng 20 xe cứu hỏa, cứu hộ cho Việt Nam

Overseas Vietnamese presents fire truck to Binh Duong
Source: vietnamnet
16/11/2007

Pham Van Thuy, an overseas Vietnamese from the US on November 16 presented two fire trucks to the southern province of Binh Duong .

Thuy also sent US firemen to help their local peers use the trucks, which have 32-m ladders.

Thuy is CEO of the Sunrise Plastic Enterprise Inc., which invested in Vietnam ’s Hung Dong Plastic Company eight years ago. Hung Dong has a plant in Song Than 2 industrial zone, in Binh Duong province.

***********************************

INFORMATION ABOUT THIS BUSINESS:

Sunrise Plastic Enterprise Inc.
Phone: (281) 458-4772

Owner Name & Mailing Address:

SUNRISE PLASTICS ENT INC
PO BOX 489
PEARLAND TX 77588-0489

Andrew Franco
Operations Coordinator at Sunrise Plastic Enterprise, Inc.
Chemicals | Houston, Texas Area

Vị trí của công ty:
13301 Beaumont Hwy Bldg 16
Houston Texas 77049-1455

Website: http://www.nhuahungdong.com (website này hiện không hoạt động)

Bản đồ hướng dẫn đến trụ sở công ty:


View Larger Map

********************************************

COMPANY OVERVIEW by CORTERA
http://start.cortera.com/company/research/k3s7nsj5l/sunrise-plastic-enterprise-inc/

SUNRISE PLASTIC ENTERPRISE INC is in the Plastics Materials and Basic Forms and Shapes industry in HOUSTON, TX. This company currently has approximately 10 to 20 employees and annual sales of $1,000,000 to $4,999,999.

COMPANY DETAILS

Location Type
Headquarters

Industry
Plastics Materials and Basic Forms and Shapes

Year Founded
1987

Sales Range
$1,000,000 to $4,999,999

Employees
10 to 20

******************************************

COMPANY OVERVIEW by MANTA
http://www.manta.com/c/mm7cwz9/sunrise-plastics

Sunrise Plastics ( Sunrise Plastic Enterprise Inc* )

13301 Beaumont Hwy # 12
Houston, TX 77049-1455(Houston, TX Metro Area)
Phone: (281) 458-4772

Business Categories

Plastics-Products-Retail in Houston, TX
Whol Plastic Materials/Shapes, Store Retailers Not Specified Elsewhere

Sunrise Plastics Business Information

Sunrise Plastics is a private company categorized under Plastics Resins and located in Houston, TX. Current estimates show this company has an annual revenue of $500,000 to $1 million and employs a staff of approximately 1 to 4.

Also Does Business As

Sunrise Plastic Enterprise Inc

HQ, Branch or Single Location

Single Location

Annual Sales (Estimated)
$500,000 to $1 million

D&B: $3,000,000

Employees (Estimated)
1 to 4
D&B: 10

NAICS Code and Description
453998, Store Retailers Not Specified
Elsewhere

by AI HUU NINH THUAN
04/24/10. 08:24:02 pm. 1458 words, 173 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Thông báo (A), Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Hậu trường, Thông báo (A), Liên kết blogs, Thông báo (F) ,

30-04-1975: MÁU VÀ NƯỚC MẮT - NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA? - BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!


Dương Văn Minh - Thích Đôn Hậu - Thích Trí Quang

Thảm sát Mậu Thân...

... đầu hàng Việt cộng...

... thư đầu hàng của Dương văn Minh...

... Việt cộng ngơ ngáo vào chiếm Dinh Độc Lập

... người di tản trên mẫu hạm Midway...

30-04-1975: Máu và Nước Mắt
Source: congdongnguoiviet.fr

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
2010/04/20



Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30-04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.

Ngày 29/03/1975. Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có «công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất (Ấn Quang)» đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng.

Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.

Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.

Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.

Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:

Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của «Mặt trận Giải phóng miền Nam » tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).

Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng! ».

Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi « cành lá ngụy trang ». Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một « ông hoà giải » và một « vị sư » mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.


Đại đức Thích Minh Tuấn

Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị « An ninh Phật giáo » bắt giam ở các « chùa », nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu « Thượng tọa » Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai « thầy » bước xuống đó là « Đại đức » Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là Thượng tọa-Thị giả của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và « Đại đức » Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp theo là hai « ông hòa giải » quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai «thầy ». Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.

Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:

"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố, mọi việc đều tốt".

Tiếp theo, Thích Như ký nói:

"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn".

Thượng tướng Lê Quang Hòa (tên thật Lê Thành Kim, 1914-1993), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thanh tra Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 1, Chính ủy Cánh quân Duyên hải rồi cánh quân Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

« Thượng tọa » Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai « thầy », nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: "Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản". Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy. »

Quay sang hai « thầy » Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chon rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại".

Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.

Sau đó, "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo" đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo! »

Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các « chùa » đồng loạt treo cờ «Mặt trận giải phóng » cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

Ngoài ra, để lập công với « cách mạng » Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: « Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng ». Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:

« Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ».

Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:

Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy. »

Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là « Trung úy », mục đích để được « trả lại »… cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!


Tái hiện sự tích Đức Phật đản sinh tại chùa Pháp Lâm (Đà Nẵng).

Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.

Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là « tài sản của đảng Cần Lao » và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, Nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.

Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là « tài sản của Cần Lao » nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.

Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.

Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, « Bí thư đảng Cần Lao miền Trung ». Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác

Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chon cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:

"Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:

Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:

Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống".

Ông Trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:

"Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống".

Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:

"Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ".

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.

Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám "Thanh niên Phật tử" có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:

"Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử".

Nói là "mời" Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.

Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.

Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội "An ninh Phật tử" còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là "Ủy ban Áp giải".

Ngày 03-04-1975, khoảng 21 giờ tối, Nguyễn Chon, tướng VC. Đến nhận ông Dân tại nhà giam Kho Đạn. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác chết của ông Dân đã chết, xác được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân ĐN, trên thân thể của ông có nhiều vết đạn.

Chúng tôi xin nhắc lại. Năm 1962, ông Dân là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, thì Nguyễn Chơn là Trung đoàn phó. Sau khi ông Dân bỏ đơn vị trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, thì Nguyễn Chơn đã thay thế ông Trần Quốc Dân làm Trung đoàn trưởng. Đến 1975, Nguyễn Chơn lên tướng. Như vậy, cho chúng ta thấy, một mặt Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem giam trong chùa Pháp Lâm. Mặt khác ra lệnh cho Thích Minh Tuấn đem xe ra tận đèo Phú Gia để rước Sư đoàn Sao Vàng của Nguyễn Chơn (tướng VC), rồi sau đó giao ông Dân cho Nguyễn Chơn xử bắn, theo chỉ thị của VC một cách rõ ràng không thể chối cãi.

Sau khi ông Dân chết, bọn "An ninh Phật tử" đã hướng dẫn VC, xông vào nhà ông Trần Quốc Dân dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà, mà chúng nói là "Nhà của Diệm".

Vợ ông Dân chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt các con ông bà về nương tựa với gia đinh tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.

Những người đã chết dưới bàn tay tàn bạo của "Lực luợng An ninh Phật giáo Ấn Quang":

Tối 29-03-1975, Đội "An ninh Phật giáo" đã bắn chết bảy người tại quận 3 Đà Nẵng. Trong số này chúng tôi biết mặt, biết tên bốn người, đó là các ông:

1- Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".

2- Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2 Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Khu đảng bộ Yên Bái.

3- Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cu 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cả hai vị nói trên đều trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.

4- Riêng ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là nhân viên phòng 2, Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".

Lúc "Lực luợng An Ninh Phật giáo đến nhà, vợ ông Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt ông Cang là một tên đã bắn xả vào người ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà, trước sự kinh hoàng của vợ con; bà Cang ngất xỉu, các con ông gào thét lên kêu cứu, còn "Đội An Ninh Phật Giáo lạnh lùng bỏ đi ra!!!

Cùng bị bắn với bốn vị kể trên, còn có ba người nữa. Tôi nhớ một người tên Mua, một người tôi quên tên cả hai người này đều là người An Hải Đông, quận 3 Đà Nẵng, là Cán bộ Liên hiệp Nghiệp đoàn lao công, đảng viên Đảng Công Nông do Chủ tịch Trung ương Trần Quốc Bửu lãnh đạo; và một người khác là nhân viên Cảnh sát, người Quảng Trị (chúng tôi cũng quên tên) đã bị bắn chết ngay trước Trại Ngô Quyền, An Hải Bắc, quận 3. Sau khi chết được đồng bào chôn cất ngay tại chỗ. Cho đến trước ngày vượt biển chúng tôi vẫn còn thấy nấm mộ của người này tại đó, đồng bào vẫn thường đến thắp hương cho nấm mộ vô chủ này. Không biết bây giờ có dời đi nơi khác hay không?

Ngoài ra, vào buổi chiều 29-03-1975, khoảng 19 giờ, vì không lên tầu di tản được, tôi trở về nhà, khi xe tôi chạy đến ngã ba Huế, bỗng thấy một đám đông vây quanh trước một căn nhà ở góc phía trái thuộc phuờng An Khê, quận 2, Đà Nẵng làm kẹt xe. Tôi phải dừng lại, trước mặt tôi là một lũ "An ninh Phật giáo" Đang đằng đằng sát khí trực chỉ vào một căn nhà khá khang trang, đang đóng cửa, bọn này la hét:

"Tất cả mọi người ở trong nhà phải đều ra ngoài hết, nếu không thì chúng tao sẽ đốt nhà".

Sau một hồi lâu không thấy động tĩnh; tôi nhận thấy trên khuôn mặt của đồng bào ai cũng đều lo sợ. Có lẽ ở gần nhà nên họ biết về những người trong nhà này. Trong lúc đồng bào đang lo lắng, thì bỗng có hai người đàn ông khoảng chưa tới ba mươi tuổi đã mở cánh cửa ở bên hông trái của căn nhà bước ra. Nhưng thật bất ngờ là khi hai người này vừa bước xuống chưa hết bậc tam cấp; thì bọn "An Ninh Phật Tử" liền nổ súng bắn xả vào hai người này. Cả hai vị đều gục chết trên vũng máu, thân thể nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới của bậc tam cấp nơi thềm nhà của họ. Thấy vậy, tôi mới hỏi thăm đồng bào ở đó và tôi được biết: hai vị đó là hai anh em ruột và đều là nhân viên Cảnh Sát.

Trước cái chết của hai vị này, đồng bào đã khiếp đảm vội giải tán ngay, ai về nhà nấy, tôi cũng phải rời hiện trường lập tức. Nhưng cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn không bao giờ quên được hình ảnh của hai vị cũng như căn nhà của họ, tôi vẫn tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại quê hương để tìm cho ra tên họ của những người đã chết một cách tức tuởi và oan uổng dưới bàn tay tàn ác của Phật giáo Ấn Quang; bởi tôi không muốn tên tuổi của họ sẽ bị đi vào quên lãng.

« Ủy ban lãnh đạo Lực luợng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng »

Người đứng đầu cái Ủy ban nầy là La Thành Tỵ, một tên tàn ác đã từng ra tay sát hại đồng bào trong cuộc tấn công phường Thanh Bồ - Đức Lợi, làm Chủ tịch LLHHHG Thị bộ, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, Chánh Đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng.

Chúng tôi vẫn nhớ, bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng. Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sài Gòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện. »

Đối với Quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến « chùa » để trình diện.

Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị La Thành Tỵ, một trong những tên sát thủ trong cuộc tấn công hai Phường Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-8-1964. Lúc này là Chủ tịch LLHHHG thị bộ Đà Nẵng, cùng lũ lâu la trong cái thị bộ này, lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều:

« Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sĩ quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu".

Vậy là các vị sĩ quan này phải về đi tìm súng, Nhưng súng còn đâu nữa mà tìm, bởi lúc hỗn loạn xảy ra, La Thành Tỵ đã ra lệnh cho thanh niên Phật tử phải đi thu nhặt hết đem về chất trước sân chùa. Nhưng có vị đã đi đến những hang cùng, ngõ hẻm tìm được súng, có vị tìm được cả chục khẩu súng như M.16, R.15... vác lên chùa. Trong số đó, tôi biết có một người là Thiếu Tá Đỗ Công Hào, Thuộc Tiểu đoàn 10, Chiến Tranh Chính Trị, cũng ôm một bó súng, ông yên tâm đem vào chùa; Nhưng không ngờ khi nộp súng ông lại càng bị La Thành Tỵ la hét càng to hơn nữa:

" Các anh có đem hàng trăm súng dài cũng không được, vì Sĩ quan thì phải giao nộp súng ngắn, các anh phải nộp súng ngay, không thì đừng có trách".

Đến nuớc này, thì các vị không có "súng ngắn" chỉ còn có một cách là về nhà đem tiền lên chùa để đưa cho "Lực Luợng An Ninh phật Giáo" đám này hễ ai có tiền thì chúng lấy những cây "súng ngắn" trong cái đống súng ở trước sân chùa trao cho, để nộp và để đổi lấy cái "Giấy chứng nhận trình diện" của "Thị Bộ Hòa Hợp-Hòa Giải". Thiếu tá Đỗ Công Hào cũng phải đem tiền mua súng. Sau đó, ông đã phải vào nhà tù "cải tạo" T.154, đến gần mười năm sau khi đã bị què một chân mới được ra tù. Và bây giờ, dù đã trải qua những năm dài bị hành hạ, đọa đày, nhưng Thiếu tá Đỗ Công Hào vẫn còn giữ nguyên được cái cây... súng ngắn. Chẳng biết bây giờ bọn Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo có còn muốn đòi Thiếu tá Đỗ Công Hào phải trình ra cái cây... súng ngắn nữa không???

Việt Cộng trả công cho "Lực luợng Hòa hợp Hòa giải Phật giáo Ấn Quang"

Trở lại với cái gọi là LLHHHG, sau khi Quân, cán, chính VNCH đã giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi; Lực luợng Hòa hợp - Hòa giải đã đến Tòa Thị Chính mời "Ủy ban Quân quản" đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Đại tá Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân « chùa » dằn từng tiếng:

« Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!!!".

Bấy giờ đến luợt « Ban lãnh đạo hòa giải » lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân « chùa » thì … không tiện.

Sau đó « Ủy ban quân quản » ra lệnh như sau:

“- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.
- Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.
- Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long”.

Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của « Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo » nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của "Ủy ban quân quản", có người xuất trình giấy chứng nhận của « LLHHHG » thì bọn an ninh nói:

« Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị".

Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, Nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!!!

Bây giờ đến lượt « cách mạng thưởng công » cho « Lực luợng hòa giải:

Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong « Mặt trận tổ quốc » hiện nay La Thành Tỵ là « Trưởng ban hướng dẫn gia đình Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng ».

" Chính quyền Phật Giáo ":

Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những « ông » hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay « các ông » hòa giải gọi là « đồng chí ». Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm « Hòa giải Phật giáo » bị mất mặt trước dân chúng, nên « Chính quyền Hòa giải » nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều ( như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phường, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.

Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít-tinh tại Đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức đã giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu như sau:

« Sở dĩ có cuộc mét-tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ do Phật giáo tổ chức ra để lừa bịp với chế độ Sài Gòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo Ấn Quang đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ- ngụy. Nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phường, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý Công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trễ chúng tôi sẽ có biện pháp… ».

Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét:

« Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nuớc, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm …cầm … cầm… »

Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cười lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại:

« O … cầm … cầm … cầm …cái gì cũng được nhưng không được cầm quyền".

Thích Đôn Hậu bắt buộc đồng bào phải đi diễn hành mừng sinh nhật Hồ Chí Minh:


Chùa Phổ Đà, 340 Phan Chu Trinh, Đà Nẵng

Ngày 18/05/1975, Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội Quảng Nam - Đà Nẵng và Thị bộ Hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng đã ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về « chùa » Phổ Đà « để bắt đầu cuộc diễn hành chào mừng chiến thắng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc ». "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải " đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang… phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đem xuống thì thắp sáng lên cho nó ra vẻ « phấn khởi hồ hởi » và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những « ông » hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô:

« Hoan hô bộ đội giải phóng miền nam anh hùng.»

thì đồng bào phải hô lớn « hoan hô… hoan hô… » còn khi mấy « ông » hô:

« Đả Đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nuớc », thì đồng bào phải hô « đả đảo…đả đảo… »

Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng « hoan hô » và « đả đảo » mà thôi. Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn một giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô « hoan hô…đả đảo… » Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi … cười một mình.

Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các «ông» hòa giải hành hạ đang đi qua nhà, tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cuời, khi nghe mấy «ông» hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới:

«Bà con ơi! ai rớt gói cơm?»

thì có tiếng của đồng bào đáp trả:

« hoan hô... hoan hô… »

Nghe vậy mấy « ông » hòa giải lại la lớn:

« Bà con ơi! gói cơm ai rớt? »

Đồng bào lại hô

« đả đảo … đả đảo …».

Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cứ mắt nhắm, mắt mở cũng chỉ biết có

« hoan hô »

với

« đả đảo » cái... gói cơm.

Cuối cùng, các « ông Hòa giải» tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét:

«Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai…làm…rớt…gói…cơm…thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài…vậy hả? »

Lúc đó đồng bào mới biết là có « sự cố ».

Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người phải cầm đèn gió đi diễn hành. Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có « hệ thống » trước khi diễn hành đến « chùa » Pháp Lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh kêu gọi:

" Yêu cầu tất cả đồng bào hãy tập trung về tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần, để bắt đầu cuộc diễn hành trên khắp thành phố suốt đêm để mừng cách mạng chiến thắng, cho đến sáng ngày 19-05, trước khi đến chùa Pháp Lâm tại số 500, đường Ông Ích Khiêm để mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch vĩ đại"

Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện kể trên, tôi nghĩ chờ Trời sáng sẽ xuống chùa Pháp Lâm xem thử mọi việc ra sao.

Khi đến « chùa » Pháp Lâm, tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến « Thượng tọa » Thích Đôn Hậu ngỏ lời nói:

"Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ ».

Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một « cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào » khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ.


Giáo sư Hoàng Châu Ký, sinh năm 1921 tại xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình khá giả. Ông tham gia cách mạng ngay từ năm 16 tuổi, từ trần ngày 31 tháng 1 năm 2008 tại Đà Nẵng, hưởng thọ 87 tuổi.

Hoàng Châu Ký đã ngỏ lời khen ngợi có đoạn như sau:

« … Quý Thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực luợng hòa hợp hòa giải, là những người đã có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ- ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ-Ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành. Ngoài ra, cách mạng sẽ giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất, để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.

Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư … Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học … Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)… thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do… tự do... ».

Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, Nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những « vị trí thức » này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ… tự do!!!

Trong lúc y còn nói chuyện, nhưng chúng tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.

"Trại Cải Tạo T.154":

Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi đã bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC đã cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho « khánh thành » và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành "Trại cải tạo T.154", để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra trại trước mười năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.

Sau đó, khi đưa tất cả các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã trình diện tại « chùa » Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 ( hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là « Cán bộ trực trại » điểm danh xong rồi khóa cửa lại. Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08 cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp dưỡng ( nhà bếp) một trạm xá.

Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Son, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi). Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ). Rồi thay vì đưa ra Bắc; vào đêm 03-05-1979, các vị này đã bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ) trong một đêm khuya tối Trời. Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài:

- Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng,
- Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng,
- Linh mục Nguyễn Đình Ánh.

Riêng Linh Mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.

Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù « vi phạm nội quy » thì công an trại nữ lại "Lập biên bản" để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Ví thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại nam - nữ tù đều biết tất cả.

Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, « tuy xa mà gần, tuy gần mà xa » chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn trại mỗi khi trong trại có nhiều người « vi phạm nội quy » hoặc xem văn nghệ vào dịp Tết, hay ngày 2/09, « nghệ sĩ » là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.

Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp!!! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chước « Tự quản » (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 ( Đồng Mộ ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải « đạt » 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải "đạt chỉ tiêu". Nói tóm lại làm việc gì cũng phải « đạt chỉ tiêu » hết.

Nhưng không phải « đạt chỉ tiêu » rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải «làm tranh thủ» hái đậu phụng (lạc) cũng «chỉ tiêu» cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao động khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải «tranh thủ» làm cỏ mía... Thôi thì đủ thứ «tranh thủ» không làm sao kể hết.

Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; Nhưng vẫn "không đạt chỉ tiêu". Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!!!

Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả.



Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái « may mắn » là « được » chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:

- Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị « kỷ luật » cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, Nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho « trật tự » trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trễ, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông đã lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.

- Đại úy Nguyễn Phượng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!!!

- Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cùng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ đã lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho « trật tự » trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho « trật tự » trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!!!

- Chúng tôi cũng đã chứng kiến tại "Đồng Cừ", hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh đến ngã ngụy xuống mặt đất trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại "Đồng Cừ", cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để giấu đi những dòng nước mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kính, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn để nấu ăn cho chúng. Vả lại, chúng biết rõ là anh Nguyễn Văn Đức không có ý đầu độc chúng, Nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.

- Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin Linh mục Vũ Dần, Linh Mục Đặng Đình Canh, Linh Mục Nguyễn Đình Ánh, Linh Mục Tống Kiên Hùng, truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam, ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.

Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.

- Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình… Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, nhưng ông không thể ung dung để hưởng những ưu đãi của Việt cộng, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!!!

- Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 06 h 30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn « cơm » xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để « tâm sự ». Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam « trật tự » khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một « cán bộ » nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính « cán bộ » ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép « cán bộ trực trại » để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho « cán bộ trực trại ».

Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn Thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là « cán bộ y tế ». Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đình nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có « cán bộ » Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói... Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức. Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, « cán bộ » Yên bảo tôi chạy ngay về trại, không được nhìn cái gì cả, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà «Phó giám thị » Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra!!! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn « trật tự » và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, Nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, « cán bộ trực trại » tên Trịnh Thị Thư vợ của « giám thị » Huỳnh văn Hưng người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: « Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết ». Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai đi lao động.

Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nuớc, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.

Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng như lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.

Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vuợt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy, đó là trường hợp của gia đình Giáo Sư Thượng Nghị Sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phuờng Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đã tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng!!! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù!!! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn đau của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù "cải tạo"!!!

Những năm dài ở trong lao lý, Giáo Sư Bùi Văn Giải đã từng bị đưa vào nhà "Biệt giam 2.79" tức Đồng Mộ và nhà "Biệt giam Nhà Trắng" cùng với nhiều vị sĩ quan cao cấp và các vị cán bộ lãnh đạo cao cấp của các chính đảng. Khi bị bệnh nặng Giáo sư Bùi Văn Giải phải vào bệnh xá Trại 1 (trại chính), khi xuất viện ông lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, thời gian này tôi vẫn thường thấy ông với mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.

Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì « nhân đạo » nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nuớng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của Giáo Sư Bùi Văn Giải phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nuớc!!!

Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thu con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nuớc mắt của cha mẹ mình đã tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland, Hoa Kỳ.

Tạm thay lời kết:

Khi viết đến những dòng này, tôi bỗng thấy có hơi buồn; bởi chúng tôi biết có rất nhiều người đã biết, đã thấy những hành vi tàn ác của Phật Giáo Ấn Quang trong suốt bao nhiêu năm qua. Song cho đến giờ này cũng chỉ thấy xuất hiện một số ít bài viết về các biến cố như: Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-08-1964- Cuộc Bạo Loạn tại miền Trung, mùa hè 1966, Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, 1968 và về ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội: 30-04-1975. Nhưng, tất cả họ đã vì một lẽ nào đó, nên đều tránh né, không muốn hay không dám viết hết những sự thật. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể bởi bị ám ảnh với những hình ảnh giết người của Ấn Quang nên họ sợ đụng chạm, hoặc vì đang đứng ở vào một tổ chức nào đó mà phải cần đến Ấn Quang; và còn một lý do khác nữa là họ sợ một ngày nào đó phải cần đến lá phiếu của Ấn Quang. Riêng kẻ viết bài này là một người không hề có tham vọng về chính trị, nên dù bất kể một thế lực nào cầm quyền tại Việt Nam, kẻ này cũng không màng đến một địa vị, chức tước gì cả. Vì thế, nên không bao giờ cần đến bất cứ một lá phiếu nào; mà điều duy nhất của người viết những loạt bài này là đã tâm nguyện: Suốt đời chỉ làm một người cầm bút, để viết lên tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó. Viết với tất cả tâm thành để cho lớp trẻ sau này còn biết đến những hành vi tàn ác, bất nhân của những kẻ đã từng gieo rắc tang thương, máu lệ cho đồng bào vô tội; hầu cho họ biết đường mà tránh xa phường lục lâm, tặc phỉ, để khỏi rơi xuống hố sâu của tội ác. Bởi đó, chính là lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

************************************************


Nhà thờ Thánh Tử Đạo tại Phoenix, Arizona

NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA?

Source: RVNAF 2010/04/23

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị triệt hạ tại buổi Lễ Khánh Thành Thánh Đường Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Phoenix ngày 18.04.2010



Ngày 11 tháng 4, 2010, linh mục Nguyễn Trường Luân và ban tổ chức Đại Hội Suy Tôn Lòng Thương Xót Chúa tại Đại Học Cal State Long Beach đã dùng lực lượng cảnh sát và an ninh hộ tống Hồng Y Phạm Minh Mẫn vào nơi hành lễ cũng như cho nhân viên an ninh chìm, nổi kiểm soát gắt gao giáo dân đến dự lễ.

Một tuần sau, không kém phần sỉ nhục, sáng chúa nhật ngày 18 tháng 4, 2010 linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã dùng tất cả biện pháp an ninh để ngăn chận cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong dịp khánh thành nhà thờ.



Từ ngã tư đến cửa nhà thờ, khoảng 20 "quần chúng tự phát" được linh mục Thuận tổ chức thành nhân viên an ninh nội chính với đồng phục áo tím dàn hàng "đón" quan khách và ngăn chặn cờ Vàng của giáo dân mang theo mừng lễ. Cũng may Hoa Kỳ là một đất nước có luật pháp nên "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục Nguyễn Thuận chỉ tịch thu cờ Vàng, hình Đức Giáo Hoàng Cổ Quàng Cờ Vàng của giáo dân chứ không đến nỗi sử dụng "bạo lực cách mạng" như "quần chúng tự phát áo xanh" đã man rợ tấn công giáo dân cầu nguyện cho công lý và sự thật trước tòa Khâm Sứ tại Hà Nội.

Ngay cửa nhà thờ 4 cảnh sát Mỹ mặc sắc phục trấn giữ và cảnh sát chìm đứng vòng trong có nhiệm vụ được giao phó từ linh mục Thuận: dẹp bỏ, tịch thu cờ Vàng.



Trước ngày khánh thành lm Nguyễn Thuận đã dằn mặt giáo dân:“ cờ Mỹ tôi cũng cấm chứ nói gì cờ Vàng!“ khi giáo dân yêu cầu với linh mục cho phép rước cờ Vàng, cờ Mỹ và cờ hội thánh Công Giáo để tăng phần long trọng cho buổi lễ và cám ơn nước Mỹ đã đón nhận người Việt tị nạn cộng sản cũng như dương cao biểu tượng của người Việt quốc gia. Chính người công giáo Việt Nam tị nạn cộng sản tại Arizona này chứ không ai khác đã đóng góp mồ hôi nước mắt để xây dựng nên ngôi nhà thờ mới này.

Trong không khí hân hoan ngày đại lễ, nhiều giáo dân đã mang cờ Vàng đến mừng lễ với sự mong mỏi chính đáng: ngọn cờ chính nghĩa sẽ được tung bay trong ngày giáo xứ ăn mừng lễ khánh thành nhà thờ mới, nhưng mọi người đã thất vọng vì nhân viên an ninh Mỹ và "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã cương quyết không cho mang cờ Vàng vào sân nhà thờ. Nhóm áo tím đã còn ngang nhiên cướp cờ trên tay giáo dân.

Một số giáo dân đã truyền cho nhau hình Đức Thánh Cha Benedic 16 Choàng Cờ Vàng kèm theo thư ngỏ song ngữ Anh-Việt lời lẽ ôn hoà giài thích về cờ Vàng và lý do tại sao lá cờ được tôn vinh.

Nhưng sau đó "quần chúng tự phát áo tím" đã hung hăng "thu" lại từ tay một số giáo dân VN và xé nát, chà đạp dưới chân, mặc dù đó là chân dung vị Cha chung của giáo hội Công Giáo toàn cầu. (đây chứng tỏ họ không phải là người công giáo, mà chính là bọn công an CS được gửi sang Mỹ để lũng đoạn quần chúng VN TỴ NẠN CS).



Để phản đối, hàng chục giáo dân, nhiều cựu chiến binh Hoa Kỳ và một số thành viên cộng đồng tay cầm cờ Vàng cũng như phất đại kỳ trước nhà thờ. Niềm vui ngày đại lễ tan biến, ai cũng lấy làm đau buồn vì linh mục chánh xứ đã thành công trong việc dẹp lá cờ Vàng tại giáo xứ. Biểu tượng của người Việt Quốc Gia bị xoá bỏ trong sự im lặng cúi đầu chịu đựng của hàng ngàn giáo dân. Ai cũng sợ hành động ủng hộ cờ Vàng của mình là chống cha vì cha luôn chống cờ Vàng và chống cha là chống Chúa.

Dù đau xót vì biểu tượng hồn thiêng sông núi bị linh mục Thuận nhất quyết loại trừ khỏi giáo xứ, mọi người vẫn giữ ôn hoà, chỉ dương cờ Vàng và yên lặng tưởng nhớ đến các linh hồn tử sĩ đã dùng máu mình để tô thắm màu cờ bảo vệ chính nghiã quốc gia cũng như hiệp thông với giáo hội và đất nước đang bị đàn áp thô bạo tại Việt Nam.

Hai trong số cựu chiến binh Hoa Kỳ đã không thể chấp nhận sự bán đứng chính nghiã tự do ngay trên đất Hoa Kỳ, đã tay cầm cờ Vàng, tay cờ Mỹ đi vào sân nhà thờ nhưng cảnh sát Mỹ đã cương quyết ngăn cản theo lệnh của linh mục Thuận. Hai cựu chiến binh này đã chất vấn cảnh sát Mỹ: “ Tại sao nhà thờ này nằm trên đất Mỹ mà quý ông là công dân Mỹ lại chấp nhận cho họ ra lệnh loại bỏ quốc kỳ Mỹ? Ngoài ra, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng của một dân tộc yêu công bằng, bác ái, dân chủ, tự do và hơn 50 ngàn chiến binh Mỹ đã hy sinh để bảo vệ nó cũng bị loại bỏ ở cái nhà thờ này, quý ông có thấy xấu hổ không?“

Thật ngược ngạo khi linh mục Nguyễn Thuận dùng tiền của giáo xứ do giáo dân Việt Nam đóng góp để mướn cảnh sát Mỹ đàn áp lại giáo dân và biểu tượng của họ.

Sau thánh lễ Dâng Hiến Thánh Đường do Đức giám mục giáo phận Phoenix chủ sự, các giám mục, linh mục tiến ra sân nhà thờ xem đốt pháo, muá lân mừng thánh đường mới. Một số giáo dân đã vui mừng và phất cao lá cờ Vàng. Một điều nghịch lý mà không một ai có thể hiểu, trong khi các vị giám mục, linh mục Hoa Kỳ vui vẻ ban phép lành cho lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của dân tộc Việt Nam, có linh mục còn khoác lên vai như vị Giáo Hoàng cuả họ, thì các linh mục Việt Nam một số làm ngơ, một số đi thì thầm cái gì đó với các linh mục Mỹ để các linh mục Mỹ lấy cờ Vàng đang khoác trên người xuống, thậm chí có 1 linh mục còn giật lá cờ VN trên tay một giáo dân và lẩn mất.

Trong niềm hân hoan có nhà thờ mới, giáo dân ra về không quên tự hỏi, linh mục Nguyễn Thuận là ai? Linh mục muốn gì khi bất chấp dư luận, bằng mọi cách triệt hạ cờ Vàng Ba Sọc Đỏ? Và linh mục có giữ lời hứa “xây xong nhà thờ là tôi đi” không, để giáo xứ sớm có lại bình an, đoàn kết, thương yêu nhau như trước ngày linh mục đến nhận xứ cách đây 10 năm (?)?

Phoenix, ngày 22.04.2010

Gián điệp công an Việt cộng "Nguyễn Thuận" đã lòi đuôi chồn, sau hơn năm nằm yên tại Phoenix đã được lệnh trung ương phải ra mặt thi hành NQ 36. Các giáo dân ở Phoenix và CĐ người Việt tại Mỹ phải có thái độ với tên Việt cộng này.

*********************************************************

BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!

Trần Thanh


TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN:
............................................

Tình cũng khó theo thời cơm áo, khó

Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần!
.............................

Khăn tăm tối hãy ngang đầu quấn nốt

Quấn cho nhau, quấn bạo, quấn cuồng điên

Vòng sau cùng sẽ gặp quỷ SA TĂNG (Lê Thị Công Nhân)

Bởi hạnh phúc mơ hồ như Thượng Đế!
..................................

Đời vốn không nương người thất thế

Thì thôi, Ô NHỤC cũng là danh!
....................................

Những câu thơ trên do thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên sáng tác năm 1973. Bài thơ mang tựa đề "Hai hàng me ở đường Gia Long", nội dung nhuốm màu bi quan, yếm thế, thụ động, buông xuôi, chấp nhận số phận nghiệt ngã, coi như mọi sự đều do Thượng Đế an bài!

Khi đề cập đến sự đau khổ của toàn dân tộc ta dưới ách cai trị của bọn việt gian cộng sản, nhiều người đã cho rằng, ấy là "mệnh trời" đã quy định như vậy! Chẳng hạn, con tắc kè Đinh Thạch Bích thường xuyên đề cập đến "thuyết Định Mệnh": người Mỹ đã thay mặt cho "thuyết Định Mệnh", quyết định cho bọn việt gian cộng sản được xuống cọp an toàn rồi, đừng có chống cộng nữa, vô ích!

Do bị ảnh hưởng bởi "thuyết Định Mệnh" nên nhiều người trong chúng ta đâm ra buông xuôi mọi chuyện. Thay vì tích cực hành động để chấm dứt kiếp nô lệ thì ngày đêm họ cầu mong Thượng Đế cứu giúp, nhưng Thượng Đế đâu không thấy, chỉ thấy quỷ Sa Tăng Lê Thị Công Nhân xuất hiện, trong vai "thánh nữ", vị "cứu tinh" của dân tộc, mang màu sắc tôn giáo!

Chúng ta đang chiến đấu chống bọn việt gian cộng sản và đã chiến đấu ròng rã ba phần tư thế kỷ, từ năm 1945 đến nay. Chúng ta sẽ thua bọn chúng nếu chúng ta không thắng được trên mặt trận tôn giáo. Mặt trận tôn giáo là địa bàn hết sức quan trọng mà bọn giặc đã và đang triệt để khai thác. Ðó là nơi bọn cán bộ cộng sản đội lốt những nhà "tu hành" để bòn rút xương tủy của chúng ta và đâm chúng ta những nhát dao lút cán vào thấu tim gan, phèo phổi. Nhiều người đã bị chết mà vẫn không hiểu vì sao mình chết, ngược lại, còn cám ơn bọn chúng!

Hiện nay tại hải ngoại, bọn cán bộ cộng sản đội lốt tôn giáo đang hoạt động dày đặc. Có thể nói, khoảng 90 phần trăm những chùa và nhà thờ tại hải ngoại đều là những ổ rắn độc của bọn việt gian cộng sản. Ðó là những căn cứ địa hết sức an toàn của bọn chúng, nơi đó, chúng đã ra sức bòn rút máu tủy của chúng ta qua những chiến dịch "từ thiện", và đồng thời thi hành nghị quyết 36, quyết tâm thôn tính toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại, biến chúng ta thành những kẻ nô lệ như 85 triệu nô lệ ở trong nước!

Vì sao bọn giặc đã và đang thành công trên mặt trận tôn giáo? Trước năm 1975, bọn chúng đã thành công và bây giờ, vẫn bổn cũ soạn lại mà chúng ta vẫn cứ bị sa vào cạm bẫy?

Sở dĩ bọn giặc thành công vì chúng dựa vào các yếu tố sau đây:

1. Dựa vào sự ngu dốt chính trị của quần chúng

2. Dựa vào sự mê tín của quần chúng

3. Dựa vào lòng tham của quần chúng

Ngu dốt về chính trị chính là cứ thấy những thằng nào cạo đầu trọc, mặc áo cà sa là cứ cắm đầu cắm cổ vái lạy mà không hề dám tìm hiểu lai lịch, gốc gác của bọn chúng từ những cái lỗ nẻ nào chui ra? Cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều người chưa hề biết những tên sát nhân hết sức ghê tởm như Thích Ðôn Hậu, Thích Trí Quang là những tên cán bộ cộng sản thứ thiệt! Toàn bộ những "đức tăng thống", đệ nhị, đệ tam, đệ tứ của Phật giáo đều là bọn cộng sản đội lốt!

Đúng ra, có thể nhiều người đã biết điều này nhưng không dám lên tiếng. Sự hèn nhát của họ cộng với sự ngu dốt chính trị của quần chúng đã là mảnh đất mầu mỡ hết sức thuận lợi cho bầy vi trùng ho lao sinh sôi nẩy nở để gặm nát hai lá phổi của toàn dân Việt!

Thế còn sự mê tín? Xin thưa, sự mê tín của quần chúng nằm ở chỗ, đa số đã hiểu rất sai về tôn giáo của mình. Tôn giáo vốn dĩ, từ hàng ngàn năm nay, đã bị vô số những bọn lưu manh lợi dụng, sửa đổi giáo lý, vẽ rắn thêm chân, làm cho nó khác đi rất nhiều so với những điều giảng dạy nguyên thủy của những đấng Cứu Thế hoặc Giáo Chủ. Lấy ví dụ, cốt lõi của đạo Phật là sự TỰ GIẢI THOÁT. Ðức Phật chỉ hướng dẫn phương pháp tự giải thoát, còn tự mỗi tín đồ phải thực hành để tự giải thoát cho bản thân mình. Cũng ví như Ðức Phật chỉ cho những người sắp chết đói, chết khát biết nên đi về hướng nào để gặp con suối, nơi đó có cá và cây cối. Và khi đến được con suối rồi thì chính bản thân những người chết khát phải tự múc nước mà uống, muốn ăn trái cây thì tự họ phải trèo lên cây hái trái. Ðức Phật không thể "ăn giùm" hoặc "uống giùm" cho bất cứ người nào!

Tương tự như vậy, muốn thoát kiếp nô lệ thì chính chúng ta phải đứng dậy lật đổ chế độ cộng sản chớ không thể "biểu tình tại gia", nằm trốn dưới gầm giường trùm mền mà tự nhiên chế độ cộng sản bị sụp đổ! Người Mỹ không thể chống cộng giùm chúng ta, Liên Hiệp Quốc cũng chỉ gãi ghẻ và những hình bóng "đấng cứu thế" Góc Ba Chớp Việt Nam cũng chỉ là hoang đường!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích đang ra sức tuyên truyền trên diễn đàn paltalk và tờ điện báo VietNam Exodus. Đinh Thạch Bích là tên lưu manh chính trị, khoác áo "người quốc gia" để lừa bịp đồng bào. Sự nguy hiểm của hắn cũng không thua gì Ali Baba Nguyễn Chí Thiện, "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ hoặc "giáo sư" đại học Đặng Văn Nhâm!!!

Thế nhưng, như đã nói trên, vì mê tín và tham lam cho nên đã có rất nhiều người làm vô số điều ác rồi cứ đến chùa bỏ tiền vào thùng "phước sương", hy vọng rằng tội ác của họ sẽ được xóa hết! Ðây chính là hành động mình khát nước mà lại nhờ Ðức Phật uống nước giùm! Giả sử, chúng ta thèm ăn phở thì chính chúng ta phải chịu khó đi đến tiệm phở. Không có người nào điên khùng tới mức, nói là:" Anh ơi, chị ơi, tôi đang thèm phở quá nhưng bận việc không đi được. Anh chị có đi ăn phở thì nhớ ĂN GIÙM TÔI một tô cho tôi được no bụng nhé!"

Ðó là lý do vì sao đã có những kẻ đi ăn cướp nhà băng được một triệu đô la rồi đem mười ngàn đô bỏ vào thùng "phước sương" ở chùa để làm "từ thiện"!

Sự mê tín của quần chúng được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh, và chính nhờ đó, bọn cán bộ cộng sản - công an đầu trọc - đã và đang ung dung sống một cách huy hoàng như những ông vua trong những ngôi chùa nguy nga như những cung vàng điện ngọc, có đầy đủ những cung tần mỹ nữ phục vụ!

Sự mê tín đã đẻ ra lòng tham, hay nói theo kiểu cộng sản, hai cái này có mối quan hệ biện chứng! Hầu như ai đi đến chùa là cũng mong CẦU ÐƯỢC MỘT ÐIỀU GÌ ÐÓ. Cầu được danh, cầu được lợi, cầu được trúng số, cầu được tình duyên suông sẻ ..v..v... Và ai sẽ là người "đại diện" cho Ðức Phật để gia hộ độ trì cho các phật tử? Chính là quý "thầy", tức những tên công an đầu trọc chớ còn ai vào đó! Chính vì vậy mà đôi khi các tín đồ sùng bái quý "thầy" tới mức, nếu "thầy" bảo ăn cứt, họ cũng không dám từ chối!

Tất cả những điều Ðức Phật dạy, họ đã quên hết, hay nói cho đúng, họ học giáo lý như những con vẹt, học mà không bao giờ chịu suy gẫm và thực hành. Nếu may mắn, có những người học-hiểu, thì oái oăm thay, những kẻ này không bao giờ dám dùng sự hiểu biết của mình như tấm kính chiếu yêu để nhìn rõ chân tướng của những tên công an đầu trọc, như "đại đức", "thượng tọa", "hòa thượng"! (học-hiểu mà không học-hành là đồ bỏ!)

Cứ như thế, từ năm này sang năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chúng ta không có can đảm ÐỂ TỰ GIẢI THOÁT thì chín mươi triệu dân Việt sẽ mãi mãi làm nô lệ!

Muốn thoát kiếp nô lệ, chúng ta phải mạnh dạn lột mặt nạ của những tên công an đầu trọc và đưa bọn chúng lên giàn hỏa thiêu .....

Câu chuyện sau đây đáng để chúng ta suy gẫm. Xin mời quý vị theo dõi ....

*******

Nàng là thiếu nữ 22 tuổi, sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ. Cha mẹ nàng là người Việt nên nàng có tên Việt Nam là "Thắm", còn cái tên Mỹ "Tracy" chỉ dùng khi nàng đi học. Thắm là sinh viên năm thứ tư chuyên ngành về hóa học, sắp sửa ra trường. Nàng là sinh viên xuất sắc, biết đọc viết và nói tiếng Việt rất thông thạo. Tuy sinh trưởng tại Mỹ nhưng cái gốc Việt Nam của nàng đã được vun bồi khá đầy đủ. Ðây là công lao rất lớn của cha mẹ nàng, tuy xuất thân từ giới bình dân, lao động nhưng không bao giờ quên cội nguồn dân tộc. Cha mẹ nàng có ba người con, Thắm là trưởng nữ, rất hiền ngoan, học rất giỏi cho nên hai ông bà cưng quý nàng như một bảo vật. Một lý do nữa, Thắm là một cô gái sắc nước hương trời, hoa ghen thua "Thắm", liễu hờn kém xanh, là niềm tự hào lớn cho cả gia đình nàng và có lẽ cho cả cộng đồng người Việt tại tiểu bang Texas. Nhiều người đã đến xúi dục cha mẹ nàng, cho Thắm đi thi hoa hậu để kiếm "danh và lợi", theo đúng lời dạy của đại lão hòa thượng Thích Quảng Ðộ* nhưng cha mẹ nàng đã gạt phắt đi. Con gái mà đi thi hoa hậu thì sớm muộn gì cũng biến thành một loài đĩ công cộng, bị những bọn lưu manh thương mại lợi dụng, và không khéo cuộc đời sẽ bị kết thúc một cách bi thảm!

Tuy đang sở hữu một viên ngọc quý nhưng cha mẹ Thắm lúc nào cũng lo ngay ngáy trong bụng, nhất là nàng đã đến tuổi cần phải lấy chồng. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân nhưng "chốn ba quân" nào mới được chứ, xã hội bây giờ rất phức tạp, bọn ma cô, lưu manh, điếm đàng nhiều như ruồi ở khắp mọi nơi, lơ mơ là giao trứng cho ác! Cha mẹ Thắm thường bàn tính với nhau như sau:

Vợ: - Anh à, tụi mình đã thống nhất với nhau, con gái mình phải lấy chồng là người Việt. Em không thích con mình lấy Mỹ đen hay Mỹ trắng hay Mễ Tây Cơ, để rồi nó bị ảnh hưởng lối sống Mỹ, tụi mình sẽ mất con!

Chồng: - Ðúng! Bởi vậy, anh đang nghĩ nên cho con mình đến sinh hoạt trong những tổ chức của cộng đồng người Việt để nó có điều kiện kiếm chồng là người Việt!

Vợ: - Anh à, em thấy hiện nay có mấy tổ chức của người Việt quốc gia như "Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu", "Tuổi Trẻ Lên Ðường", "Tuổi Trẻ Tiếp Bước Cha Anh", "Ðoàn thanh niên Hưng Việt", "Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng" ..v..v.. Ðây là những tổ chức chống cộng, có nội quy sinh hoạt rất đàng hoàng, có cả đồng phục nữa, toàn là những thanh niên trí thức ở hải ngoại tham gia. Có lẽ mình nên cho con nó tham gia, một công đôi chuyện, vừa ích nước lợi nhà, vừa có cơ hội kiếm được tấm chồng đàng hoàng!

Chồng: (giật nảy người như bị điện giật)

- Ấy chết! Em không biết gì sao? Giao trứng cho ác! Ðó là những tổ chức do đảng cướp Việt Tân dựng lên, dưới sự chỉ đạo của bọn việt gian cộng sản! Con gái mình vào đó là tàn mạt cuộc đời! Có thể nói một trăm phần trăm tất cả những tổ chức "giáo dục tuổi trẻ" hiện nay tại hải ngoại đều là do bọn việt gian cộng sản núp trong bóng tối chỉ đạo! Tụi nó muốn biến giới trẻ tại hải ngoại thành những tên nô lệ ngu đần chỉ biết mù quáng tin tưởng vào bác và đảng, giống như những tổ chức như "Ðoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh" và "Ðội thiếu niên tiền phong" ở trong nước!

Vợ: - Hay là mình cho con nó tham gia mấy tổ chức từ thiện, chuyên đi làm việc phước đức?

Chồng: (lắc đầu thở dài ngao ngán)

- Anh đã tìm hiểu rất kỹ rồi. Toàn bộ những tổ chức "từ thiện" tại hải ngoại đều là do bọn cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản lãnh đạo! Con gái mình mà vào đó là tan nát đời hoa, là tự nguyện đi làm nô lệ cho bọn giặc! Nếu em xem băng Thúy Nga Paris, ở cuối cuộn băng có xuất hiện một thằng chó đẻ khoác áo "linh mục", kêu gọi đồng bào góp tiền để giúp những người "nghèo" ở Việt Nam! Toàn bộ số tiền quyên góp đó sẽ chui vào túi bọn giặc, đó là lý do vì sao hiện nay bọn cộng sản đã trở nên giàu nứt vách, mồi thuốc lá bằng giấy bạc 100 đô, mỗi khi đi ỉa thì tụi nó dùng giấy bạc NĂM TRĂM ÐÔ để chùi đít!!!

Vợ: - Còn mấy đoàn thể dành cho tuổi trẻ do nhật báo Người Việt và đài truyền hình Sinh Bắc Tử Nam tổ chức thì sao anh?

Chồng: (lắc đầu quầy quậy)

- Ðó là hai cái Ổ RẮN ÐỘC của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản, em không biết hay sao? Nội em nghe mấy chữ "sinh bắc tử nam" là biết rồi! Tụi nó là rắn độc nhưng đã khéo léo hóa trang thành những con lươn vô hại, hiền lành! Thằng chó đẻ nào cũng khoác áo "người quốc gia chống cộng" nhưng thực chất lại là cộng sản thứ thiệt!

Vợ: (tỏ vẻ thất vọng)

- Như vậy thì còn chỗ nào cho con mình sinh hoạt nữa? Không lẽ mình cứ giam nhốt nó mãi trong nhà để nó bị ế chồng?

Chồng: (nét mặt rất buồn bã, u sầu)

- Anh nói thiệt với em, đôi khi anh cảm thấy hết sức buồn chán và thất vọng. Có thể nói hiện nay thiên la, địa võng của bọn việt gian cộng sản đã giăng ra khắp nơi tại hải ngoại. Giới trẻ tại hải ngoại như những con chim non hầu như không còn lối thoát, đâm đầu vào bất cứ chỗ nào cũng đều là hang ổ rắn độc của bọn giặc! Tổ chức nào cũng trương lá cờ vàng ba sọc với hình năm vị tướng đã tuẫn tiết hồi năm 1975 nhưng thực chất lại là ổ rắn độc của cộng sản! Nói đâu xa, chẳng hạn như đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại. Sáng nào con mẹ giám đốc Lưu Lệ Ngọc cũng kêu gọi đồng bào "nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa" nhưng đến tối thì nó đi dự tiệc với mấy thằng cán bộ chó đẻ trong tòa đại sứ việt cộng! Nói đâu xa, tờ điện báo VietLand thường xuyên treo cờ Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên in hình năm vị tướng tuẫn tiết năm 1975, rồi cả hình các chiến sĩ hải quân VNCH đã hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974, nhưng thực chất bọn chó đẻ này chính là những tên chó săn, tay sai của việt gian cộng sản! Bọn chúng thường ngụy biện rằng tờ báo của chúng là diễn đàn "dân chủ, đa chiều" nhưng bọn chúng chỉ đăng một vài bài "chống cộng" (dỏm) làm kiểng để ngụy trang, che mắt, còn 95% những bài viết khác đều là những bài tuyên truyền, có lợi cho bọn giặc! Nói thiệt với em, nếu bọn chúng mà dám đăng bài của những người chống cộng thứ thiệt thì anh sẽ tình nguyện .... ăn cứt chớ không thèm ăn cơm nữa!

Vợ: (cặp mắt chợt bừng sáng)

- Anh à, em nhớ ra rồi. Tại sao mình không cho con mình đến chùa sinh hoạt, làm công quả? Tụi mình là phật tử thuần thành, cho con mình đi theo con đường "tu tại gia" là rất hợp lý. Biết đâu, nhờ đến chùa làm công quả, nhờ ơn Phật tổ, mà con mình kiếm được một tấm chồng xứng đáng!

Chồng: ( nét mặt rạng rỡ )

- À, phải rồi. Em nói đúng. Anh đã quên khuấy đi môi trường tôn giáo chính là nơi rất lành mạnh để giáo dục con người! Cám ơn em đã có ý kiến này rất hay!

Vợ: - Theo em biết, ở chùa hiện nay đang có nhiều đoàn thể dành cho các gia đình phật tử, chẳng hạn như gia đình phật tử Long Hoa, Quảng Ðức, Lý Công Uẩn ..v..v.. Mình cho con Thắm tham gia vào những đoàn thể này là rất phù hợp!

Chồng: (vỗ đùi đánh đét)

- Phải rồi, đúng quá! Vậy mà hồi giờ anh nghĩ không ra! Thôi, ngày mai mình đưa con đến chùa, xin cho nó gia nhập gia đình phật tử!

Thế là sau đó, cha mẹ Thắm đã đưa nàng đến một ngôi chùa lớn nhất tiểu bang Texas để xin cho nàng được gia nhập đoàn thể gia đình phật tử. Hai ông bà rất yên tâm vì đây là môi trường tôn giáo, chắc chắn là không có những bàn tay nhám nhúa, tàn độc của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản thò vào. Kể từ đó, cô Thắm được phát một bộ đồng phục màu lam và trở thành đoàn viên của gia đình phật tử. Chủ nhật hàng tuần, cô chăm chỉ đến chùa học giáo lý và làm công quả. Nhờ giỏi tiếng Anh lẫn tiếng Việt, lại là người trí thức nên cô được các anh huynh trưởng và quý thầy cô hết sức quý mến. Tính tình của Thắm lại rất ngoan hiền, chăm chỉ học giáo lý để thấm nhuần Phật pháp nên ai cũng thương mến. Và có lẽ, đặc biệt nhất, là cái nhan sắc "Tây Thi" của nàng đã làm mọi người mê mẩn, càng thương mến nàng hơn. Nhan sắc của nàng vốn được nuôi dưỡng bằng bơ sữa của Mỹ chính cống từ nhỏ đến lớn mà mấy con đĩ hoa hậu Hải Phòng ở trong nước không bao giờ có thể sánh kịp.

Ðược sinh hoạt trong gia đình phật tử, Thắm cảm thấy vô cùng thích thú vì nàng có dịp được mở mang kiến thức và quen nhiều bạn mới. Có điều Thắm hơi e ngại vì có một vài anh "huynh trưởng" mặt mũi trông rất bậm trợn tựa như du đãng bến xe, nói rặt giọng bắc Hải Phòng. Nàng đã loáng thoáng nghe một vài lời xầm xì rằng những "huynh trưởng" này chính là những đảng viên cộng sản, vượt biên qua ngã Hồng Kông, được cài vào chùa để hoạt động! Tuy nhiên, Thắm vốn là người kín đáo, thủ khẩu như bình, giả câm giả điếc để được an toàn tu học!

Một hôm, một tên huynh trưởng việt cộng nói với Thắm:

- Chị Thắm, thầy hòa thượng trụ trì cần mời chị lên để .... làm việc!

Thắm không hiểu hai chữ "làm việc" nên hỏi lại:

- Anh nói sao, em không hiểu?

Huynh trưởng việt cộng giảng ... "pháp":

- Nói chung trong thời gian qua, chúng tôi thấy chị phấn đấu tốt, học tập tốt và nàm công quả tốt nên đã kiến nghị lên thầy trụ trì giao cho chị nàm công tác quản ní thư viện!

Từ khi sinh hoạt ở chùa, Thắm chỉ được trông thấy thầy trụ trì có một vài lần. Nghe nói thầy là đại lão hòa thượng, đã trên tám mươi tuổi, đi tu từ khi ông nội của nàng vừa mới .... chào đời! Tuy đã lớn tuổi nhưng trông thầy rất quắc thước, dáng đi và những động tác vẫn còn cứng cáp, nhanh nhẹn. Thầy chỉ xuất hiện làm chủ lễ trong những buổi lễ lớn, ngoài ra, hàng ngày thầy nhập thất, muốn gặp thầy phải qua ba bốn lớp đệ tử canh gác cửa! Thắm cũng đã nghe loáng thoáng những lời xầm xì rằng thầy là đảng viên cộng sản từ hồi năm 1945 và thầy vừa mới về Việt Nam tham dự đại hội việt kiều!

Sau khi làm "công tác tư tưởng" xong, tên huynh trưởng việt cộng dẫn Thắm lên gặp thầy trụ trì. Lần đầu tiên được đứng đối diện với thầy trụ trì, Thắm không khỏi "run như run thần tử thấy long nhan". Thầy trụ trì tuy đã ngoài tám mươi, da mặt đã bị "xếp li" nhiều nhưng đỏ au và bóng lưỡng, chứng tỏ thầy được hấp thụ chất bổ rất nhiều. Ðặc biệt, thầy có cặp lông mày chổi xể rất rậm rạp, đã trổ màu bạc trắng như cước và cặp lông mi cũng đều trắng bạc, khiến bất cứ người nào mới thoạt nhìn cũng có ý nghĩ thầy giống như ... thần "Bạch Mi"!

Căn phòng riêng của thầy vừa là nơi làm việc và cũng là phòng ngủ. Ðiều đầu tiên đập vào mắt Thắm khiến nàng vô cùng kinh ngạc là ngay trong phòng có treo một tấm hình .... bác Hồ và một lá cờ đỏ sao vàng! Phía dưới lá cờ là ba khung hình lộng kiếng, có ghi mấy giòng chữ thật lớn như: "Huân chương chiến công hạng nhì", "Huân chương Ðộc Lập", "Huân chương đại đoàn kết dân tộc". Linh tính báo cho Thắm biết có một cái gì đó không ổn. Tại sao phía bên ngoài chùa thì treo cờ vàng ba sọc còn bên trong này thì treo cờ việt cộng? Thắm đã từng tham gia và chứng kiến nhiều cuộc biểu tình, nơi đó người ta đốt lá cờ máu và đốt hình Hồ Chí Minh. Nàng hiểu đại khái đó là những cái gì tượng trưng cho những tội ác hết sức ghê tởm, tựa như bọn khủng bố hoặc bọn phát xít hồi đệ nhị thế chiến! Vậy thì tại sao, tại sao lại có điều nghịch lý đến như vầy, Thắm thoáng có một dấu hỏi trong đầu.

Thầy trụ trì đang ngồi bật ngửa trên ghế, phì phèo điếu thuốc lá. Phía sau lưng thầy là một chú tiểu đang ra sức đấm bóp. Vừa trông thấy Thắm vào, thầy khoát tay ra hiệu cho chú tiểu và tên huynh trưởng việt cộng lui ra ngoài. Thầy chỉ tay vào chiếc ghế, nói với Thắm:

- Ngồi đi con!

Thầy có giọng nói rổn rảng, âm vực khá mạnh, đó là lý do vì sao đôi khi thầy thuyết pháp tại chánh điện, trước hàng ngàn phật tử mà không cần dùng máy phóng thanh! Thắm bẽn lẽn ngồi xuống ghế. Nàng vừa e thẹn, rụt rè, vừa cảm thấy hãnh diện vì không ngờ hôm nay nàng được ngồi đối diện với một vị đại lão hòa thượng, được giới tín đồ xưng tụng như "đấng giáo chủ" tại hải ngoại! Tuy nhiên, Thắm cũng hơi lo trong bụng, không biết thầy cần gặp mình có chuyện gì? Thầy trụ trì đích thân rót một tách trà rồi nở một nụ cười hiền từ, thân thiện:

- Con uống trà đi. Dạo này việc học giáo lý của con có tốt không?

Thắm đáp lí nhí:

- Thưa thầy, con học được!

Thầy hỏi tiếp:

- Mấy anh huynh trưởng giảng bằng tiếng Việt, con có hiểu không?

- Thưa thầy, hiểu!

Thầy đưa ra nhận xét:

- Thầy biết các con sinh đẻ bên Mỹ, tiếng Việt không rành cho nên nhiều con gặp khó khăn trong việc học giáo lý. Thầy đang cố gắng đào tạo những anh huynh trưởng có khả năng giảng giáo lý bằng song ngữ Anh-Việt nhưng chưa tìm được. Thật là may mắn, thầy nghe quý phật tử nói con thông thạo cả hai ngôn ngữ Việt-Mỹ. Con cố gắng học để trong tương lai làm công tác giảng dạy giúp cho Giáo Hội nghen. Phước đức nhiều lắm đó!

Ðược thầy khen, Thắm đỏ bừng mặt sung sướng. Ðúng là nàng giỏi tiếng Việt nhưng trong giáo lý có nhiều từ ngữ phức tạp, khó hiểu quá. Nghe nói đó là những từ ngữ bắt nguồn từ tiếng Tàu. Chẳng hạn như Thắm thường nghe anh huynh trưởng giảng thao thao bất tuyệt:

- .... trong các hạnh bố thí, có ba loại bố thí quan trọng nhất, đó là "Pháp thí, tài thí và vô úy thí" ...

Pháp thí và tài thí thì Thắm đã hiểu, còn "vô úy thí" là gì thì nàng mù tịt! Có lần Thắm đã hỏi anh huynh trưởng nhưng anh ta phớt lờ, viện cớ "bận việc", chắc có lẽ anh ta cũng chẳng hiểu! Thế là Thắm tự nhủ:

- Thật may quá, sẵn dịp này được gặp thầy thì mình nhờ thầy giảng cho thế nào là "vô úy thí"!

Nghĩ vậy, nên Thắm rụt rè hỏi:

- Thưa thầy, con không hiểu "vô úy thí" là gì. Xin nhờ thầy giảng cho con!

Thầy hòa thượng cười hiền từ:

- Giáo lý Phật Pháp nó vô cùng lắm. Nó thay đổi theo thời gian, tùy hoàn cảnh mà ta áp dụng! Ðể từ từ rồi thầy cắt nghĩa cho!

Nói xong, thầy nhìn hau háu vào khuôn mặt trắng hồng, đẹp tuyệt vời của Thắm khiến nàng e thẹn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà. Tiếp theo, thầy hòa thượng đủng đỉnh tiến lại chiếc giường nệm của thầy và ra lệnh:

- Con lại đây, thầy có chuyện cần hỏi con!

Nghe thầy ra lệnh đến bên "long sàng" của thầy, tự nhiên Thắm sợ hãi phát run. Bản năng tự vệ của nàng bùng dậy, nàng muốn chống lại mệnh lệnh nhưng không có đủ can đảm. Ðể tự trấn an mình, Thắm tự nhủ:

- Mình đang nói chuyện với thầy đại lão hòa thượng mà. Thầy đáng tuổi .... ông cố nội của mình. Không sao đâu!

Nghĩ vậy nên Thắm rụt rè, co ro cóm róm tiến đến, ngồi nơi mép giường, diện đối diện với thầy hòa thượng. Tự nhiên linh tính của nàng báo cho nàng biết có một điều gì đó không được bình thường mặc dù nàng đã hết sức tự trấn an. Nàng khẽ liếc mắt nhìn trộm "long nhan" của thầy thì tự nhiên nàng thấy kinh sợ quá. Tất cả những nét hiền lành, đạo cao đức trọng, từ bi độ lượng của một vị chân tu trên bảy mươi tuổi đạo, đã hoàn toàn biến mất. Nhường chỗ vào đó là cặp mắt hau háu đầy dục vọng như mắt của con chó sói vừa trông thấy con cừu non. Bằng giác quan thứ sáu, Thắm cảm nhận được sự thèm khát nhục dục qua ánh mắt và sắc mặt của "thầy" hòa thượng. Nàng cảm nhận được hơi thở của con chó sói đang gia tăng cường độ, ánh mắt của nó như những mũi dao bén nhọn đang săm soi vào lồng ngực của nàng. Bản năng tự vệ bùng dậy, hốt nhiên Thắm lấy hai tay che lồng ngực của mình. Tất nhiên, tất cả những sự hốt hoảng của Thắm đều không qua được cặp mắt lão luyện của con chó sói. Gã hòa thượng ôn tồn, nói bằng giọng nhỏ nhẹ như để trấn an Thắm:

- À, thầy định hỏi con một chuyện. Như con biết, sự học phải luôn luôn đi đôi với hành. Con đã học về đức bố thí, vậy từ trước tới nay,có bao giờ con đã bố thí cho bá tánh điều gì chưa?

Thắm lí nhí đáp:

- Thưa thầy, "Pháp thí" thì con không có khả năng để giảng "Pháp". Còn "tài thí" thì con cũng chưa làm được vì còn đang đi học nên không có... tiền!

Gã hòa thượng bật cười trước sự ngây thơ, thật thà của Thắm:

- Như vậy là con không có cái gì để bố thí cho bá tánh, như vậy thì làm sao tu đạt được chánh quả?

Thắm cảm thấy rất bối rối và mặc cảm trước sự nhận xét này của "thầy" hòa thượng. Ðúng vậy, nàng chẳng có cái gì để bố thí cho bá tánh, con đường tu học của nàng chắc chắn sẽ còn nhiều gian nan lắm! Người Mỹ cũng thường nói "give and take". Có cho thì mới có nhận. Mình phải làm phước cho bá tánh thì những điều phước đức nó mới tự nhiên tìm tới mình. Ðây là điều hiển nhiên gần như những định luật trong khoa học vật lý! Từ chỗ bối rối, mặc cảm, Thắm cúi gầm đầu, hai tay cuống quýt vân vê tà áo. Gã hòa thượng tiếp tục nhìn Thắm bằng cặp mắt của con chó sói đói mồi:

- Con không có gì để bố thí cho bá tánh, cũng không có gì để cúng dường cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), thì thôi, để thầy gợi ý với con điều này, giúp con giải quyết được "vấn nạn" ....

Nghe thầy gợi ý giúp đỡ, Thắm hơi mừng, khẽ ngước nhìn lên nhưng bắt gặp cặp mắt đỏ ngầu đầy thèm khát của con chó sói, nàng run bắn người, gục đầu xuống như con đà điểu vùi đầu trong cát nóng, chạy trốn sự thật. Tiếp theo đó, bằng giọng hơi run run, khàn khàn, thầy hòa thượng nói nhỏ với Thắm:

- Con không có "tài thí", không cúng dường được phải không .... Hay là, ... con cúng dường cái .... lồn của con cho thầy được không???!!!

Lời đề nghị táo bạo của gã hòa thượng như tiếng sét nổ ngang tai của Thắm. Nàng tá hỏa tam tinh, thấy bảy ông trời. Tuy nhiên, nàng hy vọng chắc là mình vì quá bối rối mà nghe lộn chăng? Vẻ mặt của Thắm vụt trở nên tái mét vì sợ hãi. Nàng cất giọng run run hỏi:

- Thưa thầy, thầy vừa nói cái gì?

Gã hòa thượng tự động tiến tới ngồi sát bên Thắm, đưa tay vuốt má nàng và nói thì thầm vào tai của nàng:

- Thầy đề nghị con nên cúng dường cái .... lồn của con cho thầy! Phước đức lắm đó con. Thầy đại diện cho Phật Tổ Như Lai sẽ gia hộ độ trì cho con được trúng số độc đắc, trở thành triệu phú! Pháp thí, tài thí và .... lồn thí là ba điều bố thí quan trọng nhất trong thời đại ngày nay. "Vô úy thí" là xưa rồi. Thời đại ngày nay phải là "lồn thí" thì mới tạo được nhiều phước báu, có thể trở thành tỷ phú đô la như mấy đồng chí trong trung ương đảng! Mấy cô hoa hậu ở trong nước đều là "lồn thí", nhờ vậy mà họ đều được giàu sang, phú quý!

Ðến nước này thì Thắm bỗng bật lên khóc òa, khóc một cách hết sức đau đớn, tức tưởi. Nàng khóc không phải vì nhân phẩm, nhân cách của nàng bị xúc phạm mà khóc vì .... thần tượng sụp đổ! Nàng không thể ngờ được một vị đại lão hòa thượng mà lại thốt lên những điều ngoài sự tưởng tượng của nàng! Có ngủ mơ chắc cũng không bao giờ nàng mơ thấy một cơn ác mộng đang xảy ra trong thực tế như vậy! Trời ơi là trời! Tại sao, tại sao và tại sao??? Rõ ràng từ bao lâu nay, nàng đã chứng kiến vị đại lão hòa thượng này là một vị cao tăng được rất nhiều người kính nể như một ông Phật sống. Một lời vàng ngọc của thầy ban ra, thiên hạ bá tánh răm rắp tuân theo và gần như là những sự vâng lời vô điều kiện. Có nhiều tín đồ sùng bái thầy tới mức, giá như, thầy bảo họ ăn cứt chắc họ cũng không dám từ chối! Như thế, đủ thấy uy lực của thầy lớn tới cỡ nào. Chắc chắn thầy phải là một bậc chân tu, đạo rất cao, đức rất trọng, cỡ như thượng tọa Thích Quảng Ðức đã dám xả thân tự thiêu vì đạo pháp. Vậy mà .... trời ơi, tại sao? Thật không hiểu nổi!

Thấy Thắm bật khóc, gã hòa thượng bèn đưa tay xoa nhẹ lên má của nàng, rồi bỗng nhiên, tựa như một con hổ đói, cầm lòng không đậu, gã đè ngửa con mồi ra, hôn chùn chụt, hôn lia lịa vào khuôn mặt đẹp của nàng. Sự sợ hãi, sự thất vọng, sự đau đớn về tinh thần đã làm cho sức kháng cự của Thắm hoàn toàn bị tê liệt. Nàng nằm xuôi cò trên giường tựa như Thúy Kiều, cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu, mặc tình cho con chó sói tha hồ tung hoành ngang dọc! Phước báu đâu không thấy, chỉ thấy chữ trinh đáng giá ngàn vàng của nàng sắp sửa bị tước đoạt!

Gã hòa thượng đã mở được cửa thiên đàng mà không hề gặp một sự kháng cự nào thì tội tình gì mà gã không thừa thắng xông lên, "tới luôn bác tài"! Gã nhanh chóng lột tuốt luốt toàn bộ quần áo của Thắm, biến nàng thành một con nhộng nằm tô hô ở trên giường, rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên! Tiếp theo, gã vùi đầu vào cặp vú của nàng và bú chùn chụt, bú lia bú lịa như một đứa trẻ bị khát sữa lâu ngày. Sau đó, như một dân chơi thứ thiệt ở động đĩ ngã ba Chú Ía, gã hòa thượng vùi đầu vào háng của Thắm, bú, mút và liếm một cách hết sức say sưa như một con chó sói đang khát máu. Thương thay một đóa trà mi, dâm tăng đã tỏ đường đi lối về!!!

Bây giờ thì gã hòa thượng đảng viên cộng sản đã hiện nguyên hình là một con quỷ dâm dục. Gã đã trần truồng một trăm phần trăm và đang nằm đè lên cô Thắm cũng đang trần truồng như nhộng. Gã ôm hôn Thắm lia lịa và thì thầm vào tai nàng qua hơi thở dồn dập:

- Tao thèm ... lồn quá!

Thắm gần như bị thôi miên hoặc tê liệt về thần kinh. Ðầu óc của nàng mơ mơ màng màng, thân thể của nàng hầu như bị mất hết cảm giác. Hay là vì nàng đã uống phải tách trà do gã hòa thượng pha, trong đó có bỏ thuốc mê? Trong cơn mê sảng, nàng chỉ loáng thoáng nghe những lời nói hằn học của gã hòa thượng:

- Hừ, trên bảo dưới không nghe! Trên bảo dưới không nghe!

********

Ngày hôm sau, Thắm vừa khóc vừa kể lại hết tất cả mọi sự cho cha mẹ nàng. Cha mẹ Thắm đã rụng rời chân tay, muốn ngất xỉu khi nghe câu chuyện kinh thiên động địa này. Hai ông bà rất tin Thắm vì nàng vốn là cô gái hết sức ngây thơ, thành thật, không bao giờ biết nói dối. Mẹ của Thắm, mặt tái nhợt như bị trúng gió, hỏi Thắm bằng giọng run run:

- Thiệt vậy sao con? Thiệt vậy sao con? Trời ơi, chắc tôi chết!

Sự lo sợ của hai ông bà tập trung vào hai điều. Thứ nhất, là câu nói của vị đại lão hòa thượng "Trên bảo dưới không nghe". Thắm đã thuật lại nguyên văn câu nói này cho cha mẹ nàng để cả hai tùy nghi nhận xét! Thứ hai, hai ông bà sợ Thắm đã bị mất trinh! Không khéo nàng mang bầu thì nguy lắm. Luật pháp nước Mỹ cấm phá thai, ai mà vi phạm, lơ mơ là đi tù! Trời ơi, chắc là phải đưa con Thắm về Việt Nam để nó phá thai!!! Thật là đại họa!

Cha mẹ của Thắm là phật tử thuần thành, rất tin vào đạo Phật, rất sùng bái mấy ông thầy chùa. Có lẽ đây là truyền thống của gia đình vì ông nội của Thắm, hồi năm 1965, đã sùng bái thầy Trí Quang tới mức, nghe theo lời thầy "dạy", đem luôn bàn thờ Phật ra ngoài đường để "đấu tranh cho đạo pháp"!

Mẹ của Thắm lo lắng hỏi chồng:

- Anh à, con Thắm làm cho thầy không vừa ý, thầy quở nó. Ðiều này làm cho gia đạo của mình bị tổn phước .... Em lo quá!

Cha của Thắm hỏi lại:

- Sao em biết là thầy quở nó?

- Thì nó kể là thầy cằn nhằn "trên bảo dưới không nghe"! Anh quên rồi sao?

Cha của Thắm đưa hai tay ôm đầu, nét mặt đăm chiêu, suy nghĩ rất dữ dội. Mỗi khi có chuyện gì quan trọng, ông thường làm như vậy. Khoảng chừng năm phút sau thì bỗng ông thở phào như trút được một gánh nặng ngàn cân. Ông mừng rỡ nói:

- Em à, con Thắm nhà mình vẫn còn .... trinh! Không phải thầy hòa thượng quở nó đâu! Anh đã tìm ra đáp số rồi!

Mẹ của Thắm hỏi dồn:

- Sao ông biết, sao ông biết?

Cha của Thắm nở một nụ cười tự hào và nói nhỏ với vợ:

- Tại em ít có theo dõi tình hình chính trị nên không biết. Cái câu nói "trên bảo dưới không nghe", nguyên thủy là câu nói của thằng chó đẻ Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước của việt cộng. Sau đó, báo chí ở hải ngoại người ta nhạo báng, biến nó thành ra câu "tục ngữ", ám chỉ mấy người bị liệt dương! Thầy đại lão hòa thượng của tụi mình là cộng sản chính cống đó. Thầy là thiếu tướng công an, trước đây đã từng là ủy viên trung ương đảng, hồi thằng Võ Văn Kiệt còn làm thủ tướng. Chính thằng Kiệt đã đưa thầy ra hải ngoại hoạt động để "gom bi" toàn bộ việt kiều! Anh biết điều này đã lâu nhưng anh không dám hé răng. Lơ mơ là tụi điệp viên của cộng sản nó tìm tới tận nhà, nó ám sát mình!

Mẹ của Thắm lại théc méc:

- Thầy là cộng sản thì có dính dáng gì đến việc con mình không bị mất trinh?

Cha của Thắm tiếp tục giải thích:

- Thầy đã cởi truồng nằm đè lên người con Thắm mà thầy thốt lên câu nói "trên bảo dưới không nghe", tức là ý thầy bất mãn, lực bất tòng tâm! Thầy muốn, nhưng "chú tiểu" không muốn! Thầy đã ngoài tám mươi tuổi thì "trên bảo dưới không nghe" là chuyện bình thường. Nhờ vậy mà con Thắm nhà mình vẫn .... còn trinh! Tôi dám cá một trăm phần trăm là nó vẫn còn trinh. Nó mắc cở không dám nói hết, chớ nếu bà hỏi nó chi tiết thì mọi chuyện sẽ minh bạch!

Nghe chồng giải đáp xong mọi chuyện, mẹ của Thắm thở phào mừng rỡ:

- Cám ơn Trời Phật. Nhà mình thiệt còn có phước lớn! Tôi chỉ sợ nó bị tai tiếng vì vụ này thì có nước ế chồng!

Ông chồng tỏ ra là người hiểu biết "nghệ thuật" sống ở đời:

- Nhưng dầu gì vợ chồng mình cũng là đệ tử của thầy. Dầu thầy của tụi mình có sai trái gì đi chăng nữa thì bổn phận là phật tử, tụi mình vẫn phải thờ kính thầy như thờ Phật, huống chi trong trường hợp này, thầy đã "nhân đạo" không làm cho con mình bị mất trinh! Bởi vậy tôi bàn với bà là ngày mai, hai vợ chồng mình phải mua trái cây, bông hoa và tiền mặt đem tới chùa làm lễ cúng tạ ơn thầy đại lão hòa thượng. Xin tạ ơn thầy đã "nhân đạo" buông tha cho con Thắm nhà mình!

PHẦN KẾT LUẬN:

Câu chuyện cô Thắm bị hãm hiếp là một trong hàng ngàn tấn bi kịch đã và đang xảy ra, trong đó, nạn nhân là những phật tử ngu dốt, mê tín và tràn đầy lòng tham. Chính vì tham lam, lười biếng, không muốn tự giải thoát cho chính mình nên họ đã nhờ các "thầy" đại diện cho Phật Tổ giải thoát giùm! Những tên công an đầu trọc thừa cơ nước đục thả câu, vừa bốc hốt đô la, vừa "gia hộ độ trì" cho nhiều cô gái bị mang bầu!

Cha của cô Thắm thừa biết tên đại lão hòa thượng là cán bộ cộng sản. Hắn đã công khai đi dự cái gọi là "đại hội việt kiều" ở Việt Nam. Nhưng cha của cô Thắm, cũng như vô số những phật tử khác đã ngậm câm miệng hến, tiếp tục cam tâm làm những tên nô lệ hèn nhát đến ngu xuẩn và tội nghiệp!

Con gái của mình bị hãm hiếp, không dám đi tố cáo với chính quyền, đã vậy hai vợ chồng còn tiếp tục rủ nhau đến chùa dâng lễ tạ ơn "thầy" đã giàu lòng "nhân đạo" không làm cho cô Thắm bị mất trinh!

Có lẽ sau khi đọc xong câu chuyện này, nhiều người sẽ kêu lên: - Ồ, đây là sản phẩm tưởng tượng của tiểu thuyết! Thực tế làm gì có ở ngoài đời?

Không đâu, xin thưa với quý vị, không phải là tưởng tượng. Bằng cớ là bọn việt gian cộng sản đang tiếp tục đổ tiền ra hải ngoại xây thật nhiều ngôi chùa thật "hoành tráng". Chắc chắn là bọn chúng thấy vấn đề kinh doanh tôn giáo, nhất bản vạn lợi nên mới làm như vậy! Ở trong nước, bọn chúng đã dám bỏ ra hàng chục triệu đô la để xây ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á, rồi còn thuê nguyên một chuyến bay rước "xá lợi Phật" từ bên Ấn Độ về!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích - biệt hiệu "con tắc kè"- vẫn cứ ra rả tuyên truyền trên diễn đàn paltalk, được tờ điện báo VietNam Exodus tiếp tay phổ biến! Ngày nào bọn công an đầu trọc còn tung hoành ngang dọc, ngày đó chúng ta còn làm nô lệ.

Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa, trong lần ghé thăm Việt Nam thuyết pháp, đã dạy chúng ta rằng:

- Muốn tự giải thoát, chúng ta phải chịu khó suy nghĩ, tìm hiểu đâu là nguyên nhân gây ra sự đau khổ và phải hành động để chấm dứt nó. Ngài Drukpa đã dạy rõ rằng, nếu biết ý thức và tích cực hành động thì chúng ta vẫn có thể thay đổi, biến cái xấu thành cái tốt, làm cho số phận của chúng ta trở nên khá hơn. Lỗi của chúng ta chính là KHÔNG CHỊU TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN NÀO ĐÃ GÂY RA ĐAU KHỔ VÀ ĐÃ THỤ ĐỘNG CHẤP NHẬN SỰ ĐAU KHỔ, COI ĐÓ NHƯ MỘT SỰ MẶC NHIÊN, một loại ĐỊNH MỆNH ĐÃ được AN BÀI!!!

Trở lại trường hợp của cô Thắm, chúng ta thấy nguyên nhân gây ra sự đau khổ chính là tên dâm tăng đại lão hòa thượng. Trong trường hợp này, muốn chấm dứt sự đau khổ cho bản thân mình và cho nhiều người khác thì bản thân cô Thắm và cha mẹ cô phải làm đơn thưa tên dâm tăng ra tòa để hắn vô nhà đá mà gỡ lịch.

Ý THỨC và HÀNH ĐỘNG phải đi đôi với nhau. Cha mẹ cô Thắm ý thức được tên dâm tăng là nguyên nhân của sự đau khổ nhưng họ không đã dám hành động. Sự hèn nhát đó đã đưa đến hậu quả là bản thân họ và con gái của họ phải tiếp tục làm nô lệ!

Xin đưa thêm một ví dụ khác: - Trong chúng ta, ắt hẳn nhiều người đã từng có sự nghi ngờ về cặp bài trùng dân chủ cuội Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Tuy nhiên, họ đã không dám đi ngược lại những cái loa truyền thông bất lương của bọn giặc. Thay vì dám lên tiếng thì họ đã chọn thái độ buông xuôi, câm lặng, để mặc cho bọn giặc tung hoành, coi như định mệnh đã an bài! Họ thường tự nhủ rằng: - một tiếng nói lẻ loi của mình thì liệu có ai tin, không khéo lại bị chụp mũ là "đánh phá tôn giáo, đánh phá "anh hùng dân tộc" thì bỏ mẹ!

Tương tự như vậy, nhiều người trong chúng ta đã ý thức được tập đoàn việt gian cộng sản là nguyên nhân gây ra nỗi khổ đau cho toàn dân tộc. Nhưng họ không dám hành động, thậm chí không dám lên tiếng nói đấu tranh, thay vào đó, họ đã chọn thái độ thụ động, buông xuôi, coi như định mệnh đã an bài!

Do đó, qua tấn thảm kịch của cô Thắm, chúng ta có thể kết luận rằng: SỰ HÈN NHÁT, SỰ NGU DỐT, SỰ MÊ TÍN VÀ LÒNG THAM đã làm cho nhiều người TÌNH NGUYỆN ĐI LÀM NÔ LỆ CHO BỌN VIỆT GIAN CỘNG SẢN!!!

Trần Thanh

Ngày 11 tháng 4 năm 2010

=========================

Chú thích:

* Thầy Quảng Ðộ đã "dạy" rằng: - phàm khi làm bất cứ việc gì, chúng ta phải nhắm vào hai chữ "DANH và LỢI"!!!

THƯ CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC NGÔ QUANG KIỆT - THƯ CHÚC MỪNG CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

THƯ CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC NGÔ QUANG KIỆT

THƯ CHÚC MỪNG CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM


Giám mục Nguyễn văn Nhơn và Nguyễn tấn Dũng

GIÁM MỤC NHƠN LÀ QUỐC DOANH
Source: Diễn đàn Ba Cây Trúc

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 22.04.2010

Cách đây 6 năm, tôi viết rất nhiều để chống lại PHÁP LỆNH TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO. Tôi nhận thấy rằng Gm. Nguyễn Văn Nhơn, hiện nay là Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam, đã tích cực và là đầu nhóm ủng hộ Pháp Lệnh Tôn Giáo.

Những bài viết Chủ đề

Từ ngày 18.11.2004 (VietTUDAN số 189) đến ngày 20.01.2005 (VietTUDAN số 198), dưới Chủ đề THẨM ĐỊNH THẲNG THẮN HÀNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, tôi đã viết 12 bài QUAN ĐIỂM:

(1)Dẫn nhập: Đã đến lúc phải nói ra.

(2)Ý nghĩa của việc LÊN TIẾNG và bưng bít nội dung LÊN TIẾNG của HĐGMVN.

(3)Hàng Giám Mục đồng lõa để Pháp Lệnh trở thành hiệu lực?

(4)Tranh đấu hay quỳ gối lạy van Cộng sản và đám ngợm bầy tôi.

(5)Làm theo chiến thuật của Cộng sản và đám ngợm giáo gian quốc doanh để cản ngăn Cao trào đấu tranh của Giáo dân.

(6)Lật tẩy việc âm mưu xử tệ với Linh mục NGUYỄN VĂN LÝ và Gia đình của Ngài.

(7)Việc chủ ý trốn tránh trách nhiệm Lãnh đạo.

(8)Đám ngợm giáo gian quốc doanh làm việc cho Pháp Lệnh Tôn Giáo.

(9)Hàng Giám Mục Việt Nam hành xử rất giống đám ngợm Giáo gian quốc doanh?

(10)Hàng Giám Mục bị khinh khi nhục nhã có thể vùng dậy hay không?

(11)Pháp Lệnh Tôn Giáo không phải chỉ riêng cho Tôn Giáo mà là là việc đàn áp Nhân quyền.

(12)Ý thức trách nhiệm đối với Giáo Hội và đối với Dân tộc, Giáo dân đứng lên đấu tranh, mặc cho sự lụn bại của Chủ chăn.

Cao trào Phản đối Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo

Các Đoàn Thể mọi Tôn Giáo lên tiếng Phản Đối, ngay cả Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ trích dẫn lại đây lời nhận định về tính cách Luật pháp của Luật gia lão thành TRẦN THANH HIỆP. Luật gia tuyên bố ngày 15.07.2004:

“Nếu cái sản phẩm mà Uỷ ban Thường vụ đã nặn ra ngày 18-6-2004 không được thu hồi trước khi nó có thể tác hại thì từ ngày 15-11 trở đi, vĩnh biệt tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam“.

Hôm nay, ngày 18.11.2004, nghĩa là ba ngày rồi, từ 15.11.2004, PHÁP LỆNH TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO có hiệu lực.

Gm. Nguyễn Văn Nhơn là quốc doanh

Gm NGUYỄN VĂN NHƠN, trong nhóm ngợm Giáo gian quốc doanh Gm LÊ PHONG THUẬN, Gm NGUYỄN TÍCH ĐỨC, Gm NGUYỄN THANH HOAN, Lm THIỆN CẨM, Lm PHAN KHẮC TỪ, Lm NGUYỄN TẤN KHÓA đi họp với CSVN để tuyên bố ủng hộ Pháp Lệnh.

Ngày 25.11.2004 (VietTUDAN số 190)

Ngay Bài QUAN ĐIỂM thứ nhất ngày 25.11.2004, sau Bài Dẫn Nhập ngày 18.11.2004, tôi viết về Gm NGUYỄN VĂN NHƠN như sau:

“Có những Chủ chăn can đảm như Đức Tổng Giám Mục NGUYỄN KIM ĐIỀN. Giáo dân ngưỡng mộ tư cách của Ngài. Nhưng có Chủ chăn như Đức Cha BÙI TUẦN đã theo chiều lang sói, đã sang tận Roma hai lần để phản đối việc Phong Thánh cho các Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam. Đây là việc làm phản lại những giọt máu hồng Tử đạo đang là nền tảng cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Cũng có Chủ chăn như Giám mục NGUYỄN THANH HOAN chạy theo chiều chuộng cán bộ cao cấp của Đảng, người có quyền lực. Gần đây nhất, có Chủ chăn như Giám Mục NGUYỄN VĂN NHƠN, tham dự Buổi hội thảo hướng dẫn thi hành Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo được tổ chức ngày 8-10-2004 tại Hội trường Ban Dân vận Mặt trận Trung ương phía Nam, đã tuyên bố như sau: “Người Công giáo dấn thân phục vụ xã hội cũng chính là phục vụ người đồng đạo... Tôi nghĩ các tôn giáo sẽ có nhiều đóng góp tốt đẹp hơn nữa nếu được tạo nhiều điều kiện thuận lợi và phù hợp. Các tôn giáo đang trông đợi Pháp lệnh TNTG và Nghị định triển khai tạo nên một sự an tâm và tin tưởng”. (Trích Công giáo và Dân tộc, số 1479, tuần lễ 15.10 – 21.10.2004, tr. 14). “

Ngày 16.12.2004 (VietTUDAN số 193)

Tôi viết về đám ngợm Giáo gian quốc doanh, trong đó có Gm NGUYỄN VĂN NHƠN:

“Theo việc tuyên truyền của báo chí Nhà Nước và đặc biệt theo dõi báo Công Giáo và Dân Tộc, việc thai nghén quái thai hầu hết là do sự đóng góp tích cực của đám ngợm giáo gian quốc doanh. Báo chí đăng tải những cuộc Hội Họp đóng góp ý kiến cho Pháp Lệnh từ những Lãnh đạo Tôn Giáo. Họ tuyên truyền rằng Pháp Lệnh được thành hình là do ý kiến của chính Tôn Giáo. Người Nước Ngoài rất khó lòng phân biệt những Lãnh đạo chân chính và những Lãnh đạo Tôn Giáo quốc doanh. Khi trong những cuộc Hội Họp góp ý như vậy, có sự tham dự của những Giám Mục như Giám Mục NGUYỄN VĂN NHƠN, Giám Mục LÊ PHONG THUẬN, GM. NGUYỄN TÍCH ĐỨC, GM. NGUYỄN THANH HOAN, tham dự của các Linh Mục như LM. THIỆN CẨM, LM.PHAN KHẮC TỪ, LM. NGUYỄN TẤN KHÓA..., thì cái quái thai kia được bọc bằng chiếc áo chùng thâm Giám Mục, Linh Mục. Người Nước Ngoài nhìn thấy chiếc áo chùng thâm mà dễ lầm về cái quái thai ghê tởm Ma cà rồng bên trong. Thậm chí một số Giáo dân Việt Nam còn lầm về quái thai này vì có sự góp ý của Giám Mục, Linh Mục mà chính họ chưa có giờ nhìn tính cách quốc doanh của những Giám Mục và Linh mục ấy. Chính quyền Hoa Kỳ nhìn rõ thấy sự ghê tởm của quái thai này và đã quyết định xếp Việt Nam vào danh sách những quốc gia cần lưu tâm về Tôn Giáo.

Trước việc quyết định đó của Hoa kỳ và Cao trào chống Pháp Lệnh từ Quốc nội đến Hải ngoại, Cộng sản lại xử dụng đám bầy tôi giáo gian quốc doanh để tuyên bố nhố nhăng chống lại quyết định của Hoa kỳ và những Đoàn thể đấu tranh chống Pháp Lệnh. Trong kỳ Đại Hội của đám ngợm vào đầu tháng 10 vừa rồi, khi đề cập đến việc Hoa kỳ xếp Việt Nam vào những nước đáng quan tâm về Tôn Giáo, Linh mục Nguyễn Tấn Khóa đã long trọng tuyên bố rằng Nhà Nước cần Mặt Trận Tổ Quốc can thiệp giải quyết những vấn đề Tôn Giáo. Linh mục muốn nhấn mạnh đến sự quan trọng của Điều 7 được cho vào Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo. Ngợm Nguyễn Tấn Khóa, Linh mục, Chủ tịch Ủy Ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, cũng là Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ VN, đã tuyên bố ngày 24.09.2004 (đăng trên báo NHÂN DÂN: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới đúng là cơ quan trọng yếu để quan tâm đến vấn đề tôn giáo Việt Nam chứ không phải là Bộ Ngoại giao Mỹ. Tôn giáo luôn là nạn nhân của những thế lực thù địch với Việt Nam lợi dụng. Cần phải có thời gian và sự can thiệp mạnh mẽ, hữu hiệu hơn nữa của Mặt trận Tổ quốc để đem lại lòng tin cho nhân dân, cho đồng bào có đạo đối với Đảng và Nhà nước. Mặt trận phải có mặt kịp thời để giải quyết những mâu thuẫn có thể xảy ra giữa những vị lãnh đạo tôn giáo với chính quyền một số nơi, không để "cái xảy nảy cái ung" khiến các thế lực thù địch lợi dụng.”

Trong Buổi hội thảo hướng dẫn thi hành Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo được tổ chức ngày 8-10-2004 tại Hội trường Ban Dân vận Mặt trận Trung ương phía Nam, Giám Mục NGUYỄN VĂN NHƠN đã hồ hởi trông đợi việc rặn đẻ ra quái thai Ma cà rồng ghê tởm: “Người Công giáo dấn thân phục vụ xã hội cũng chính là phục vụ người đồng đạo... Tôi nghĩ các tôn giáo sẽ có nhiều đóng góp tốt đẹp hơn nữa nếu được tạo nhiều điều kiện thuận lợi và phù hợp. Các tôn giáo đang trông đợi Pháp lệnh TNTG và Nghị định triển khai tạo nên một sự an tâm và tin tưởng”.(Trích Công giáo và Dân tộc, số 1479, tuần lễ 15.10 – 21.10.2004, tr. 14).

Đưa Gm quốc doanh NHƠN về Hà Nội, CSVN nhằm phá ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Giáo dân

Nguyễn Tấn Dũng đã gặp Gm NHƠN tại Đà Lạt. Âm mưu đưa Gm quốc doanh NGUYỄN VĂN NHƠN về Hà Nội chỉ nhằm mục đích phá ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Giáo dân. Đây là việc phá họai Giáo Hội vậy.

Hãy lắng nghe lời Chúa Giêsu dậy:

«Khốn cho các người! Các người rảo khắp đất liền và biển cả để rủ cho một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các ngươi lại làm cho họ xuống hỏa ngục gấp đôi các ngươi». (Mt. 23, 15)

Hình phạt mà Chúa Giêsu nói cho Giáo quyền làm hại ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Tín hữu như sau:

“Những ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn.” (Mt. 18, 6).

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 22.04.2010


Giám mục Nguyễn văn Nhơn

MỘT VÁN BÀI CÂN NÃO GIỮA VATICAN VÀ CSVN?

Source: 4vietnam.org
Ts Hồng Lĩnh

Một Trong Các Tấm Carte Được Vatican Lật Ra: Vatican Bổ Nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Nhơn Làm Tổng Giám Mục Phó Hà Nội

« Il Santo Padre ha nominato Arcivescovo Coadiutore dell’arcidiocesi di Hà Nôi (Viêt Nam) S.E. Mons. Pierre Nguyên Văn Nhơn, finora Vescovo di Đà Lat e Presidente della Conferenza Episcopale del Viêt Nam ». Giám mục Nguyễn Văn Nhơn được ĐTC bổ nhiệm làm Tổng Phó giám mục của Tổng Giáo phận Hà Nội!

Với tuyên bố trên. Tòa Thánh Vatican lật một tấm carte. Trong những ngày qua, Net nuvuongconly đã phổ biến tin nầy. Nhưng trước đó, ngày 15/4 tại Tòa TGMHN Tổng GM Giuse Ngô Quang Kiệt đã mời các Giám mục trong Giáo tỉnh và các linh mục Hà Nội dùng cơm chung vời Ngài. Dịp ấy Ngài thông báo rằng sẽ có một Giám mục phó đến Hà Nội trong thời gian sớm nhất.

Một bổ nhiệm, về bí mật cũng như cách định đoạt, xem ra không theo thường lệ. Hầu như xảy ra sau các trao đổi gay go hay cả giá khá lâu và vào lúc dư luận Giáo dân, ngoài hay trong nước, không mấy thuận tình hay « kính mến » tân Tổng Phó Giám mục cho lắm? Nhưng không nên quên rằng, việc bổ nhiệm một Giám mục phó thường do vị Giám mục đương kim đề nghị, xem trường hợp Giám mục Nguyễn Văn Khảm do chính Hồng Y Phạm Minh Mẫn đề nghị và đỡ đầu cũng như chủ lệ truyền chức. Vì chánh phó phải làm việc với nhau.

Như vậy TGM Ngô Quang Kiệt phải biết trước sự bổ nhiệm nầy và ai sẽ được bổ nhiệm. Ngài ra đi chữa bệnh theo lệnh của ĐTC và khi Ngài về lại Hà Nội phải có lệnh của ĐTC. Hơn nữa Giám mục Nguyễn Văn Nhơn nay cũng đã có tuổi (1938). Một bổ nhiệm chứa nhiều yếu tố xem ra không song hành!

Thân Thế Và Sự Nhiệp Của Tân Tổng Phó Giám Mục Hà Nội

Ngài lên chức Giám mục với khẩu hiệu:« Illum oportet crescere »= NGƯỜI PHẢI LỚN LÊN và đương kim Chủ Tịch của HĐGMVN.

Sinh tại Dalat
01-04-1938

Tiểu chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn
26-10-1949

Ðại chủng sinh khóa đầu tiên Giáo Hoàng HV
1958-1968

Thụ phong Linh Mục tại Dalat
21-12-1967

Giáo sư Tiểu chủng viện Dalat
1968-1972

Giám đốc Ðại chủng viện Minh Hòa Dalat
1972-1975

Cha xứ Chính Tòa
01-04-1975

Tổng Ðại Diện Giáo Phận
10-09-1975

Ðược Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục
19-10-1991

Thụ phong Giám mục tại Dalat
03-12-1991

Giám mục phó giáo phận
1991-1994

Giám Mục giáo phận Dalat
23-3-1994

Những Nét Tiêu Biểu Của Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn

Bình thường Giám mục Nguyễn Văn Nhơn xem ra ít nói và có nét bí ẩn. Nhưng Ngài đã bày tỏ thái độ cũng như lập trường trong một số thông cáo hay phỏng vấn. Thử xem lại cuộc phỏng vấn của Fides :

Fides Phỏng Vấn (12/12/2009), vào dịp Triết qua La Mã:

Thưa Đức cha, Đức cha có cảm nghĩ và hy vọng gì trước cuộc gặp gỡ lịch sử này »?

« Chúng tôi là vừa là người Việt Nam vừa là người Công giáo và chúng tôi hãnh diện về điều đó. Lời kêu gọi của ĐHY Roger Etchegaray trong cuộc viếng thăm lịch sử Việt Nam vào năm 1989: “Các bạn hãy yêu mến Việt Nam! Hãy yêu mến Giáo Hội!” vẫn còn vang trong tim chúng tôi. Vì thế, cuộc gặp gỡ giữa ĐTC Bênêđictô XVI và Chủ tịch Nguyễn Minh Triết là điều vinh dự cho chúng tôi. Đối với chúng tôi, cuộc gặp này là một dấu chỉ sự tương kính, đưa đến một cuộc trao đổi hữu ích. Mối tương giao đưa tới hiểu biết lẫn nhau để mở ra những hứa hẹn và hy vọng mới cho đất nước Việt Nam và cho Giáo Hội công giáo ».

Những đề tài nào sẽ được bàn tới?

« Theo những thông tin đang được loan đi, chúng tôi biết rằng Chủ tịch Triết tới thăm Vatican để thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Tòa Thánh. Chúng tôi không có tin tức đặc biệt nào khác về nội dung cuộc gặp này ».

Hiện tình Giáo Hội tại Việt nam ngày nay ra sao?

« Đây là một cộng đồng, theo lời ĐHY Roger Etchegaray trong lễ khai mạc Năm Thánh, sống trong “hòa giải và hy vọng.” Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam hoàn toàn chia xẻ số phận của tất cả anh chị em mình tại Việt Nam và có một mục tiêu: yêu thương và phục vụ Chúa Giêsu Kitô của chúng ta, Đấng đã đem Tin Mừng đến thế gian, Tin Mừng đó là “Thiên Chúa là Cha chúng ta, Thiên Chúa là Tình yêu.”

Thông Cáo Đặc Sắc Của Giám Mục Chủ Tịch

Sau đêm Đồng Chiêm bị tấn công vào lúc 2 giờ sáng ngày 06/01/2010, trong quay lưng với Đồng Chiêm của Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn Chủ Tịch HĐGMVN, BBT WHD ra thông cáo : « Hội đồng Giám mục Việt Nam: lên tiếng hay không lên tiếng… Với những suy nghĩ này, có thể khẳng định HĐGMVN đã lên tiếng và sẽ còn lên tiếng, không nhằm giải quyết từng vụ việc ở mỗi địa phương, nhưng đưa ra những định hướng căn bản nhằm góp phần xây dựng xã hội, một xã hội vì con người và một xã hội phát triển toàn diện. ». Sau đó Ngài gửi thư hiệp thông động đất tại Taïhiti.

Ngài Giám Mục Chủ Tịch Ra Hà Nội Trong Bối Cảnh Các Giám Mục Đã Hiệp Thông Với Đồng Chiêm

Ngày 8/01/2010, sau đêm Đồng Chiêm bị một lực lượng trên một tiểu đoàn an ninh CSVN tấn công vào lúc 2 giờ sáng ngày 6/01/2010 , 9 Giám mục thuộc địa Tổng Giáo Phận Hà Nội và Giám Mục Kontum đồng thanh, qua thông cáo, lên tiếng Hiệp thông với TGM Ngô Quang Kiệt.

Danh Sách Các Giám Mục Đã Hiệp Thông Với Đồng Chiêm:

1.- Gm Phaolô Cao Đình Thuyên (Giáo phận Vinh)

2.- Gm Giuse Nguyễn Chí Linh (Gp Thanh Hóa)

3.- Gm Giuse Hoáng Văn Tiệm (Gp Bùi Chu)

4.- Gm Antôn Vũ Huy Chương (Gp Hưng Hóa)

5.- Gm Phêrô Nguyễn Văn Đệ (Gp Thái Bình)

6.- Gm Cosma Hoàng Văn Đạt (Gp Bắc Ninh)

7.- Gm Giuse Đặng Đức Ngàn (Gp Lạng Sơn)

8.- Gm Giuse Nguyên Năng (Gp Pháp Diệm)

9.- Gm Giuse Vũ Văn Thiên (Gp Hải Phòng).

10.- Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh, Giám Mục Kontum, thuộc Tổng Giáo Phận Huế.

Riêng Đức Cha Nguyễn Văn Yến (Phát Diệm) còn đến tận nơi để bày tỏ sự Hiệp Thông.

CSVN Không Cho Phép Đại Hội Giới Trẻ Tại Ba Làng

Tin tóm lược: « Trong khuôn khổ Năm Thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam, Uỷ ban Giới trẻ dự tính sẽ tổ chức Đại hội Giới trẻ toàn quốc vào hai ngày 21 và 22 tháng 07 năm 2010, nhằm mời gọi các bạn trẻ sống tinh thần Năm Thánh và học hỏi về Giáo Hội. Giáo xứ Ba Làng, thuộc giáo phận Thanh Hoá, là địa điểm được chọn để tổ chức Đại hội. Nơi tổ chức Đại hội mang ý nghĩa lịch sử quan trọng, vì tại đây, Cha Đắc Lộ và một số thừa sai đã cập bến lần đầu tiên vào ngày 19-3-1627, khởi đầu công cuộc truyền giáo tại miền Bắc. Dự tính tổ chức Đại hội đã được trình lên Hội đồng Giám mục Việt Nam trong Hội nghị kỳ I năm 2009 tại Bãi Dâu, và được tất cả các Giám mục đồng ý khích lệ. Tin vui này được đông đảo các bạn trẻ đón nhận và nô nức chuẩn bị tham dự.

Sau khi được phép của Hội đồng Giám mục, ngày 05-12-2009, Uỷ ban đã làm đơn gửi tới Ban Tôn giáo Chính phủ và quý cấp chính quyền tỉnh Thanh Hoá. Đơn đề nghị có chữ ký của Giám mục Đặc trách Mục vụ Giới trẻ và Giám mục Giáo phận Thanh Hóa, nơi sẽ tổ chức Đại hội.

Sau nhiều tháng chờ đợi và nhiều lần liên hệ, UBND tỉnh Thanh Hóa cho biết (20/04/2010?) hiện nay đang có tranh chấp đất đai trong khu vực nhà xứ với chính quyền. Nếu chưa giải quyết được thì không thể cho tổ chức Đại hội Giới trẻ tại Ba Làng được (Vietcatholic).

Hải Phòng ngày 20 tháng 04 năm 2010

GM Giuse Vũ Văn Thiên

GM Hải Phòng. Đặc trách Mục Vụ Giới trẻ / HĐGM Việt Nam

Lý Do Từ Chối Của CSVN

UBND tỉnh Thanh Hóa cho biết (20/04/2010?) hiện nay đang có tranh chấp đất đai trong khu vực nhà xứ với chính quyền. Nếu chưa giải quyết được thì không thể cho tổ chức Đại hội Giới trẻ tại Ba Làng được.

Từ Vũ Lực Và Quần Chúng Tự Phát Tới « Nếu » Và « Thì » Của CSVN!

1.- Nếu Vatican hoán chuyển TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội, thì CSVN sẽ xét việc tái lập bang giao.

2.- Nếu HĐGMVN chịu đề nghị ĐTC, theo yêu cầu của CSVN, hoán chuyển TGM Ngô Quang Kiệt đi chổ khác, thì sẽ cho DTC visa qua Việt Nam và làm lễ tại vận động trường Hà Nội.

3.- Nếu HĐGMVN ủng hộ yêu sách của CSVN hoán chuyển TGM Ngô Quang Kiệt xa khỏi Hà Nội, thì CSVN sẽ cho phép có HY mới tại Hà Nội.

4.- Hiện nay đang có tranh chấp đất đai trong khu vực nhà xứ với chính quyền. Nếu chưa giải quyết được thì không thể cho tổ chức Đại hội Giới trẻ tại Ba Làng.

Hiện Diện Của Biểu Tượng Ngô Quang Kiệt

Theo Hồ Học- Trần Trung Luận: « Trong cuộc đấu tranh vì “công lý, sự thật” này, đâu đâu chúng ta cũng bắt gặp hình ảnh vị Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt kiên vững, can trường (Thật ra là tinh thần Ngô Quang Kiệt mới đúng) bằng vị trí tôn giáo đương có, bằng lòng can đảm, tình yêu thương và đặc biệt là sự “hy sinh”… ông tạo ra sức thu hút, lôi cuốn, hiệp nhất giáo dân trong Giáo phận trước các vấn đề “công lý, sự thật” trước những bất công mà thế gian đổ xuống đầu đàn chiên của mình. Giáo dân trong giáo phận yêu mến kính trọng gọi ông là “mục tử nhân lành”.

Ông đã trở thành điểm tựa, niềm tin và thậm chí là ngọn cờ của những người bị áp bức, bất công, những người yêu chuộng công lý sự thật ngoài Công Giáo. Và cũng vì thế ông trở thành mối đe doạ, sự nguy hiểm, thành cái gai cái sạn trong mắt những lãnh đạo cộng sản chóp bu ».

Lá Bài Diệt Công Giáo Của Phạm Quang Nghị


Nguyễn Thế Thảo và Phạm Quang Nghị - Chủ tịch và BT Thành ủy Hà Nội (Đứng hàng đầu từ trái sang)

Cùng một tác giả: “Thời điểm này kết thúc hội nghị TW 12 mới tạm thời xắp xếp được mặt bằng của top cao nhất. Theo tin nội bộ đáng tin cậy thì Tổng bí thư sẽ là Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng sẽ là Chủ tịch nhà nước, Trương Tấn Sang là Thủ tướng và Hồ Đức Việt sẽ là Chủ tịch quốc hội trong nhiệm kỳ tới.

Thế nhưng đây mới là "lát cắt” tạm thời, một loạt những vị trí quan trọng không thua kém còn chưa được xác định như: Thường trực ban bí thư ( tức là phó tổng bí thư ) và với cái cách Đảng Cộng Sản thường đã làm để đảm bảo tính kế thừa, không có xáo trộn bất ngờ, ta thấy Nguyễn Phú Trọng tuổi đã cao sẽ làm nửa nhiệm kỳ và “truyền ngôi” cho Phó tổng bí thư... Với lối suy luận này ta thấy lộ ra nhân vật Phạm Quang Nghị ủy viên bộ chính trị - Bí thư thành ủy Hà Nội.

Xét trong tương qua của cuộc tranh quyền đoạt vị trước Đại hội này, tầm vóc, khả năng, não trạng Phạm Quang Nghị cũng “đồng hạng” ngay cả với những nhân vật đương tại vị như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết hay Nguyễn Phú Trọng.

Thế mạnh hiện Nghị đang có là tuổi tác và nếu có thêm thành tích “bóp chết công giáo” thì chắc chắn me-sừ này bước được lên tam cấp Thường trực ban bí thư, cánh cửa vào ngôi Tổng bí thư đã mở chỉ còn là ngay trong Đại hội hay chuyển tiếp giữa nhiệm kỳ tới mà thôi. Câu nói “bóp chết công giáo” là của Phạm Quang Nghị phát ngôn trong hội nghị tổng kết công tác tôn giáo năm 2009 vừa qua”.

Giáo Phận Đà Lạt Cần Tuổi Trẻ Năng Động Ở Giai Từng Lãnh Đạo

Giáo phận Đà Lạt là xứ sương mù và gió lạnh, nên cần một động lực năng nổ trên trung bình. Ngài Giám mục Chủ Tịch Nguyễn Văn Nhơn, nay đã có tuổi , phải tính chuyện người thay thế. Hai yếu tố ấy có lẽ đã thúc đẩy Vatican phải làm bài toán cho Đà Lạt.

Lời Bàn

1.- Hoàn cảnh của Tổng Giáo phận Hà Nội có một chiều lịch sử cần một người năng nổ đa diện cũng như có tính cách biểu tượng hầu mới đáp ứng được. Xét về điểm nầy, Phó Giám mục Nguyễn Văn Nhơn sẽ gặp nhiều khó khăn không thể vượt qua. Dựa trên cá tính cũng như tài năng của Ngài.

2.- Ngài tới trong một địa bàn mà các thực tại, từ phía GH cũng như phía CSVN, không có chỗ cho Ngài.

3.- Ngài phải ra khỏi Giáo phận Đà Lạt là một đòi hỏi chính đáng. Vì tương lai của Giáo phận.

4.- Nói chung, vì chính sách của Ngài và chọn lựa của Ngài, chỗ tới không phải là chỗ của Ngài và chỗ ra đi cũng chằng còn là chỗ của ngài nữa.

5.- Ngài ra đi khỏi Đà Lạt là lẽ phải. Còn Ngài tới Hà Nội trong các thực tại:

5.1.- Không thể thay thế biểu tượng Ngô Quang Kiệt!

5.2.- Trả lời không hiệp thông ra sao với 9 Giám mục đã hiệp thông? 5.3.- Ngài trả lời ra sao trước chọn lựa đã rồi của Giáo dân?

5.4.- Ngài đối mặt ra sao với Giáo dân TKS, Thái Hà, Giáo Phận Vinh với Tam Tòa, và Giáo dân Đồng Chiêm?

5.5.- Cuối cùng Ngài phải làm gì? Khi Phạm Quang Nghị nhất định dùng là bài “ Diệt Công Giáo” để thăng tiến. Xin cái gì? Không lẽ xin chức Tổng Bí Thư của Phạm Quang Nghị: Phải diệt Công Giáo? Còn cho cái gì?

Lời Kết

Bài tính của Vatican có thể rất cao. Trồng một cây ngọn xuống đất và rễ lên trời với thủy thổ trái ngược cho nó phát triển. Nếu không phải là muốn trắc nghiệm công khai chiến lược: “Đối Thoại và Cộng Tác, Đồng Hành và Hy Vọng” để tự nó tiêu diệt toàn diện một mộng mơ và thuần thục? Nếu thế thật tuyệt vời!

by AI HUU NINH THUAN
04/24/10. 05:38:45 am. 6479 words, 63 views. Categories: Không ðề, Tổ quốc dấu yêu, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Tôn giáo và tín ngưỡng ,

ĐỘI QUÂN BÍ MẬT VẪN TIẾP TỤC CUỘC CHIẾN VIỆT NAM - CÁC NHÀ TRANH ĐẤU ĐANG BỊ ÉP VÀO ĐƯỜNG CÙNG? - HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN BỊ MẬT VỤ CSVN BẮT CÓC


Ảnh: independent

Đội quân bí mật vẫn tiếp tục cuộc chiến Việt Nam

Nguồn: William Lloyd George, The Independent

Lê Quốc Tuấn, X-Cafe chuyển ngữ

Được tuyển dụng và vũ trang bởi CIA vào những năm 1960, những người Hmông vẫn còn bị kẹt giữa rừng địch, bị Mỹ và cả thế giới bỏ quên.

Ngược lên một con đường đất quanh co qua những ngọn núi xanh tốt vọng ra âm thanh của những tiếng huýt sáo từ hai bên đường. Suýt hụt mất một chiếc xe máy chạy qua, hai chàng trai trẻ với súng máy nhảy ra khỏi khu rừng dày đặc.

Mình cần phải đi nhanh, nhưng khi một cậu bé kéo tôi ngược lên phía trên cùng của một con dốc lầy lội, bùn đất dốc theo cánh tay bắn cả vào mắt. Cậu ta cố ngăn dòng nước mắt ứa ra.

Trong một khoảng trống nhỏ xíu cắt dọn khỏi cánh rừng tre dày đặc, bốn cậu bé, có lẽ không quá 18 đang thì thầm với nhau. Vã mồ hôi vì phải leo trèo nhanh và cơn nóng hừng hực, họ phơi những bộ đồng phục màu xanh rách nát của mình trên các nhánh tre và dựng những khẩu súng AK-47 cũ móp méo sang một bên.

Đây là những dấu tích còn lại của Quân đội Hoàng gia Lào, đuợc tuyển dụng bởi người Mỹ để phá vỡ đường tiếp tế Hồ Chí Minh trong Chiến tranh Việt Nam. Mặc dù Lào đã từng tuyên bố trung lập, quân đội Việt Nam đã vẫn hoạt động ở đó và CIA đã nhìn Lào như một mặt trận khác để chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản.

Đối với cả phần còn lại của thế giới, việc chiếm được thành phố Sài Gòn – bây giờ thành phố Hồ Chí Minh – của quân đội Bắc Việt vào năm 1975 đã đánh dấu sự kết thúc chiến tranh Việt Nam, nhưng đối với người Hmong, đấy chỉ là sự khởi đầu. Khi chế độ cộng sản Pathet Lào lên nắm quyền, họ đã tuyên bố sẽ quét sạch tất cả người Hmong khỏi đất Lào. Kể từ đó, người Hmong đã lẩn trốn giấu mình trong rừng sâu và hoàn toàn cách ly khỏi thế giới bên ngoài.

Những binh lính trẻ đã dẫn đường cho người dân của mình vào sâu phía sau lằn ranh quân địch trong Saysomboun – “khu vực đặc biệt”. Họ bước đi nhẹ nhàng và thì thầm, bởi vì, họ cảnh báo, “kẻ thù ở khắp mọi nơi”.

Trèo núi suốt ngày đêm, một số lên thẳng các rặng núi cao để tránh quân thù đi tuần, cuối cùng chúng tôi được dẫn đến lối vào trại của họ. Cả một cộng đồng lăn ra trên mặt đất kêu khóc thảm thương và cầu xin được giúp đỡ. Những phụ nữ lớn tuổi run bật lên vì xúc động khi kể lại những nỗi kinh hoàng mà họ đã chứng kiến, trong khi những trẻ nhỏ khóc òa khi vừa nhìn thấy một người từ thế giới bên ngoài. Cho Her, người cựu nhân viên CIA nằm úp mặt xuống xuống bùn đất, cầu nguyện cho người dân của mình được giải cứu. “Mỹ và các nhà lãnh đạo trên thế giới hãy đến đây giải cứu chúng tôi và ngăn chặn chính phủ Lào khỏi sự ngược đãi chúng tôi vì đã từng là lính của CIA trong cuộc chiến bí mật”, ông nói.

Hơn 30 năm trước, khi chiến tranh Việt Nam đã kết thúc, CIA rút các điệp viên của mình ra thì Cher Fer còn là một thanh niên trẻ. Khi người Mỹ rời đi, họ đã mang đi một số chiến sĩ Hmong với họ, nhưng đã bỏ lại hơn 10.000 đồng minh của họ để tự bảo vệ lấy mình. Cay đắng vì bị bội phản, chính phủ Lào đã bách hại những người từng chiến đấu bên cạnh người Mỹ, buộc người Hmong phải rút lui vào rừng sâu.

“Chúng tôi không có lựa chọn gì ngoài việc bắt buộc phải dùng súng ống người Mỹ cung cấp và trốn lên rừng”, Chong Pa Thao, một cựu nhân viên CIA khác vừa nói vừa lau dòng nước mắt từ đôi má của ông. “Sau đó, người Việt Nam phối hợp lực lượng với những người cộng sản Lào săn bắn chúng tôi như những con vật trong rừng rậm, gìết hại và bỏ mặc xác chết của người chúng tôi thối rữa trong rừng”.

Các thành viên của lực lượng chiến đấu kinh hoàng từng một thời đầy tự hào bây giờ nằm trên mặt đất, buông bỏ tất cả phẩm giá để cầu xin được cứu giúp, thậm chí chỉ từ một nhà báo – hiện thân Tây Phương của họ – đến thăm. Tự xác nhận mình là lính CIA, họ năn nỉ và năn nỉ hơn nữa xin người Mỹ trở lại để đưa họ ra khỏi “địa ngục trần gian” của mình.

“Tôi là CIA. Năm 1970, ông Jerry đã cho tôi khẩu M79 này và bảo tôi bắn quân thù” Cher Fer nói trong một giọng Mỹ hoàn hảo, khi ông giơ cao một khẩu súng phóng lựu cũ mèm trong không khí.

“Chúng tôi đã mất đi hàng ngàn quân lính cho Mỹ – khi các binh sĩ Lào giết chúng tôi họ cảm thấy như họ đã giết chết được một người lính Mỹ. CIA phải đến cứu lấy chúng tôi”.

Nỗi hoang tưởng về một ngày nào đó người Mỹ sẽ đến giải thoát mình đã động viên các cựu chiến binh và gia đình họ đấu tranh mà chờ đợi được trong 30 năm qua. Nhưng bất chấp sự liên minh của CIA với phiến quân Hmong, chính phủ Mỹ đã có ít nỗ lực để mang họ ra khỏi rừng trú ẩn.

Bill Lair, người nhân viên CIA huyền thoại từng điều phối các hoạt động xây dựng một đội quân kháng chiến chống cộng sản từ những người dân bộ lạc rừng rú kém giáo dục, đã bảo vệ hành động của Cơ quan Tình báo. Phát biểu qua điện thoại từ nhà của ông ở Waco, Texas, ông nói rằng Hoa Kỳ ban đầu đã tuyển dụng người Hmong và đã xử dụng người Thái để huấn luyện họ bởi vì người Hmông “giỏi hơn so với bất cứ ai khác xung quanh, mỗi bước đi của họ là ở cùng khắp do đó họ có thể di chuyển nhanh hơn quân địch rất nhiều”.

Nhưng khi được hỏi bây giờ Mỹ có nên thực hiện các biện pháp để cứu họ, ông trả lời: “CIA không mang nợ họ điều gì cả. Chúng tôi đã cho họ sự lựa chọn để rời đi nhưng họ đã quyết định ở lại, nghĩ là mình có thể quay trở lại cách đã từng sống ở vùng núi non”.

Vào năm 2007, Vang Pao, vị lãnh đạo phiến quân Hmong được chỉ định bởi CIA, người sau đó di cư sang Mỹ và trở nên một nhà lãnh đạo cộng đồng người Hmong ở đó, đã bị bắt tại California và bị Mỹ kết tội âm mưu lật đổ chính phủ Lào. Sau đó những tội trạng này đã được hủy bỏ, nhưng bản thông điệp chỉ ra rõ ràng: Mỹ giờ đây đứng về phía Lào, kẻ thù cũ của họ, một kẻ thù mà họ đã huấn luyện Vang Pao để chiến đấu chống lại.

Sự việc đắc cử của Barack Obama vào Nhà Trắng đã được xem là một ngọn hải đăng của niềm hy vọng cho những người ủng hộ người Hmong. Tổng thống đã kêu gọi tất cả các phe phái phải tôn trọng luật pháp quốc tế và “đảm bảo rằng những người Hmong lạc loài đó không phải ở trong những phương cách nguy hiểm”. Tuy nhiên, bất chấp một cuộc tranh cãi quốc tế sôi nổi, hơn 4.500 người tị nạn Hmong đã bị Thái Lan, nơi họ đã tìm cách lánh nạn, buộc phải hồi hương về Lào. Chính phủ Mỹ đã ra tuyên bố nói rằng họ có quan tâm, nhưng đã không có hành động gì.

Tiếp theo đó chính phủ Lào đã mời ba dân biểu Hoa Kỳ sang thăm. Sau đó đã tuyên bố rằng những người trở về đã được cư xử tốt khiến thổi lên ngọn lửa giận dữ giữa những người ủng hộ Hmong cho rằng chuyến đi đã bị vận dụng bởi chính phủ Lào.

Vài tuần sau, Dân biểu tham quan Joseph Cao cho biết ông muốn tăng viện trợ cho Lào. Nhưng các nhà lãnh đạo Hmong tin rằng viện trợ của Mỹ đã được đổ vào các nỗ lực quân sự của chính phủ Lào để loại trừ người Hmong, như người Hmong vẫn tự gọi mình là “những đồng minh của CIA bị lãng quên”.

Bị cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo trong rừng đã được nghe biết rằng những người tị nạn Hmong đã bị đưa trở lại Lào. Khi nhận được những tin tức này, sự tuyệt vọng của họ là hiển nhiên.

“Tối thiểu là trước đây chúng tôi nghĩ rằng mình có thể trốn thoát sang Thái Lan nhưng bây giờ chúng tôi không còn có nơi nào để chạy đi” ông Chao Fer vừa nói vừa nhìn trông qua rặng núi chỉ cách đó ba dặm. “Chúng tôi không thể cứ tiếp tục chạy, sớm muộn gì tất cả chúng tôi sẽ chết ở đây. Ngay trên núi đó là nơi của đối phương và khi chúng tôi đang nói chuyện, họ đang săn bắt chúng tôi xuống bằng chó – chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi chúng lại tấn công chúng tôi một lần nữa”.

Vài tuần trước đó quân đội Lào đã tràn ngập vào một doanh mà họ tin là của người Hmong trước đây trong một phần của chiến dịch chuẩn bị cho Các cuộc Thi đấu Thể thao lần thứ 25 của vùng Đông Nam Á. Trong cuộc đột kích một cậu bé 14 tuổi bị giết chết, những người chỉ huy cho biết là cậu bé không có vũ trang và đã chỉ đi lùng kiếm thức ăn để nuôi gia đình mình.

“Tháng trước, con trai tôi đã bị cộng sản bắn chết” mẹ của cậu bé vừa nói vừa chuẩn bị thức ăn cho những đứa con khác của bà. Nó không có súng ống gì, chỉ đi tìm ra thức ăn cho chúng tôi thôi, nhưng tôi không có khả năng để làm bất cứ điều gì – Tôi chỉ có thể chết trong rừng này”.

Những cuộc tấn công thường xuyên buộc các nhóm phải thay đổi trại mỗi hai tuần lễ và chia ra thành nhóm nhỏ để tránh các cuộc tấn công quy mô lớn của quân đội Lào. Điều này đưa đến việc cộng đồng không có cơ hội để nuôi trồng thực phẩm hoặc đạt đến được một cách sống thích hợp hơn. Khi không có sự lựa chọn khác, luộc chín lá cây đã trở thành chế độ ăn uống hàng ngày của họ và chỉ có những lúc may mắn nếu họ có thể bắt được một con khỉ hoặc loài chuột rừng. Việc thiếu ăn đã khiến họ trông suy dinh dưỡng rõ rệt – cả người già và trẻ con đều có những cái bụng sưng lên.

Ăn các loại cây lá khiến họ đói lả, cho nên như loài vật, các phụ nữ và trẻ em đến các ngọn đồi xung quanh, để đào bới bằng tay và đầu gối của mình. Bên ngoài trại, họ cho biết nhiều phụ nữ và trẻ em đã bị giết bởi quân đội Lào và những “người may mắn” thoát chết thì có những vết thương vì đạn bắn để khoe ra.

“Tôi cảm thấy đau khổ khi cho con mình những thức ăn cây lá này, nhưng chúng tôi không có lựa chọn nào khác”, một bà mẹ giải thích. “Đi săn thì hết sức nguy hiểm và chúng tôi không thể đến gần các làng mạc, vì cộng sản sẽ giết chúng tôi. Đôi khi vì quá sợ hãi không dám ra khỏi rừng, chúng tôi chỉ đành nhịn đói”.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lao Khenthong Nuanthasing đã chối bỏ sự tồn tại của nhóm người này, ông nêu rõ là nếu có bất cứ ai tồn tại như thế thì chẳng là ai khác hơn “những băng cướp”. Tuy nhiên, theo người Hmong cho biết, gần đây quân đội Lào đã gia tăng chiến dịch của họ với sự hỗ trợ của Việt Nam. Những người lãnh đạo Hmong thuật lại rằng cường độ của những cuộc tấn công chống lại họ đã tăng lên và các nhóm người của họ đang bị đẩy xa và sâu hơn vào trong rừng.

Một chuyến đi của Vang pao được thu xếp đến thăm Viêng Chăn, thủ đô Lào, để cố gắng và tạo nên một thỏa thuận hòa bình đã bị hủy bỏ, viện cớ vì những rủi ro về an ninh. Chính phủ Lào đã thông báo rằng nếu trở về ông ta “sẽ phải đối diện với bản án tử hình cho những tội ác chiến tranh của ông trong chiến tranh Việt Nam”.

Trong những căn trại giữa rừng này, nỗi sợ hãi hằn trên tất cả các khuôn mặt, ngay cả nơi trẻ em. Với Thái Lan như quay lưng lại với mình, và Mỹ dường như đang bỏ qua cảnh ngộ của mình, họ biết cơ hội sống sót thật là mỏng manh.

Khi cả nhóm tập hợp lại để nói lời chia tay, một phụ nữ lớn tuổi nắm lấy tay tôi và thì thầm vào tai :

“Tôi biết cộng sản sẽ giết tất cả chúng tôi … khi chúng hành động như thế, xin ông hãy chắc chắn nói với cả thế giới rằng chúng tôi đã ở đây và những gì công sản đã làm đối với chúng tôi”.

*****************Bản tiếng Anh nguyên thủy

The secret army still fighting Vietnam war

Hired and armed by the CIA in the 1960s, the Hmong remain trapped in enemy jungle, forgotten by America and the world

By William Lloyd George in Laos

Wednesday, 17 February 2010

Up a winding dirt path through lush mountains comes the sound of whistling from the side of the road. Narrowly missing a passing motorbike, two young boys with machine guns leap out of the dense jungle.

We need to move fast, but as one boy hauls me to the top of a steep, muddy slope his hand flicks to his eyes. He is fighting to hold back tears.

In a tiny clearing they've cut out of the thick bamboo forest four boys, seemingly no older than 18 whisper to each other. Sweating from the quick climb and dense heat, they hang up their torn blue uniforms on bamboo branches and prop up their battered old AK-47s.

These are the remnants of the Royal Laos Army, hired by the Americans to disrupt Ho Chi Minh supply lines during the Vietnam War. Although Laos had been declared neutral, Vietnamese troops were operating there and the CIA saw it as another front against the spread of communism.

For the rest of the world, the capture of Saigon – now Ho Chi Minh City – by North Vietnamese troops in 1975 marked the end of the Vietnam War, but for the Hmong, it was just the beginning. When the communist regime, the Pathet Lao took power it announced it would wipe out all Hmong from Laos. Since then the Hmong have been hiding in the depths of the jungle completely cut off from the outside world.

The young soldiers lead the way to their people deep behind enemy lines in the Saysomboun, "special zone". They tread lightly and whisper, because, they warn, the "enemy is everywhere".

Days and nights of trekking, some of it straight up mountains to avoid enemy patrols brings us eventually to the entrance of their camp. The whole community falls on the ground crying hysterically and begging for help. Old women shake with emotion as they speak of the horrors they have witnessed, while young children weep at their first sighting of an outsider. CIA veteran Cho Her lies face down in the dirt, praying for the rescue of his people. "US and world leaders please come and rescue us and stop the Laos government persecuting us for being the CIA's foot-soldiers during the secret war," he says.

More than 30 years ago, when the Vietnam War finished and the CIA pulled their agents out, Cher Fer was a young man. When the Americans left, they took a handful of Hmong fighters with them, leaving more than 10,000 of their allies behind to fend for themselves. Bitter at their betrayal, the Laos government persecuted those who had fought alongside the Americans, forcing the Hmong to retreat deep inside the jungle.

"We had no choice but to take the weapons the Americans gave us and flee to the jungle," said another CIA veteran Chong Pha Thao, wiping tears from his cheeks. "Then the Vietnamese joined forces with the Laos communists and hunted us like animals in the jungle, leaving our people's corpses to rot when they killed them."

Members of the once proud and formidable fighting force now lie on the ground, abandoning all dignity to beg for help, even from a visiting journalist, their personification of the West. Identifying themselves as CIA soldiers, they plead over and over again for the Americans to return, and take them out of their "living hell".

"I am CIA. In 1970 Mr Jerry gave me this M79 and told me to shoot enemy," Cher Fer says in a perfect American accent, as he waves a battered grenade-launcher in the air.

"We have lost thousands of troops for America – when the Laos soldiers kill us they feel like they have killed an America soldier. The CIA must come and save us."

The fantasty that America will one day come and liberate them has motivated the veterans and their families to struggle on through for the last 30 years. But despite the Hmong rebels' alliance with the CIA, the American government has made little effort to extract them from the jungle.

Bill Lair, the legendary CIA agent who co-ordinated the operation to build an anti-Communist resistance army out of poorly educated jungle tribespeople, defended the Agency's actions. Speaking by phone from his home in Waco, Texas, he said that the US originally hired the Hmong and used Thai recruits to train them because the Hmong "were better than anyone else around, every step they took was up or down so they could move a lot faster than the enemy".

But when asked if America should now take steps to save them, he replied: "The CIA owes them nothing. We gave them the choice to leave but they decided to stay, thinking they could go back to how they used to live in the mountains".

In 2007, Vang Pao, the leader of the Hmong rebels appointed by the CIA, who later emigrated to the US and was a Hmong community leader there, was arrested in California and charged by the US with conspiring to overthrow the Laos government. The charges were later dropped, but the message was clear: America was now on the side of Laos, its former enemy, an enemy it trained Vang Pao to fight.

Barack Obama's election to the White House was seen as a beacon of hope for Hmong advocates. He has called for all parties to respect international law and "ensure that displaced Hmong are not placed in harm's way". However, despite an international furore, more than 4,500 Hmong refugees were forcibly repatriated back to Laos by Thailand where they had sought refuge. The US government issued statements saying it was concerned, but took no action.

The Laos government subsequently invited three US congressmen to visit. They later claimed that the returnees were being treated well which ignited anger among Hmong advocates said the trip was orchestrated by the Laos government.

Weeks later, visiting Congressman Joseph Cao said he would like to increase aid to Laos. But Hmong leaders believe US aid has already been funnelled into the Laos government's military efforts to eliminate, as the Hmong call themselves, the "CIA's forgotten allies"

Cut off from the outside world, this is the first time the jungle leaders have heard that the Hmong refugees were being sent back to Laos. On receiving the news their despair is evident.

"At least before, we thought we could escape to Thailand but now we have no place to run to," says Chao Fer as he looks over to a mountain just three miles away. "We can't keep running, soon we will all die here. Just over that mountain is where the enemy is and as we speak they are hunting us down with dogs – it's just a matter of time before they attack us again."

Weeks earlier the Laos army had stormed the Hmong's previous temporary camp in what they believe was part of campaign to prepare for the 25th Southeast Asian Games. In the raid a 14-year-old boy was killed, the leaders say he was unarmed and foraging for food to feed his family.

"My son was shot by the communists last month," the boy's mother says as she prepares food for her other children. He didn't have any gun, just finding food for us but I don't have the ability to do anything – I can only die inside".

Frequent attacks force the groups to change camp every two weeks and break up into small numbers to avoid large-scale offensives by the Laos army. This leaves the community no chance to farm food or forge a proper way of life. With no other choice, boiled tree shrub has become their daily diet and at times they are lucky if they can catch a jungle rat or monkey. The lack of nutrients has left the group visibly malnourished – both young and old have swollen abdomens.

Eating the tree shrub leaves them starving, so like animals, women and children take to the surrounding hills to dig on their hands and knees. Outside the camp, they claim that many women and children have been killed by the Laos army and the "lucky ones" have bullet wounds to show.

"I feel so unhappy to give this food to my kids, but we have no other choice," one mother explains. "It's too dangerous to hunt and we can't reach the villages because the communists will kill us. Sometimes we are too scared to go out so we just starve."

The Lao foreign ministry spokesman Khenthong Nuanthasing has denied that the group exists, stating, if anything, they are nothing more than "bandits". However, according to the Hmong, the Laos army has recently increased their campaign with the assistance of the Vietnamese. Hmong leaders report that the intensity of attacks against them has increased and their groups are being driven further and further into the jungle.

A planned trip by Vang Pal to visit Vientiane, the Laos capital, to try and strike a peace deal has been cancelled citing security risks. The Laos government has announced that if he returns he will "face the death sentence for his war crimes during the Vietnam War".

In the jungle camp, fear is written on all the faces, even those of the children. With Thailand apparently turning its back on them, and the US seemingly ignoring their plight, they know their chances of survival are slim.

As the entire group gathers to say farewell, one old lady grabs my hand and whispers in my ear.

"I know the communists are going to kill us all... when they do, make sure you tell the world we were here and what they did to us."

**************************************************


Luật sư Lê Trần Luật

CÁC NHÀ TRANH ĐẤU ĐANG BỊ ÉP VÀO ĐƯỜNG CÙNG?

Khánh An, phóng viên RFA





Luật sư Lê Trần Luật, người từng biện hộ cho vụ giáo xứ Thái Hà và bảo vệ dân oan, lại bị ép vào con đường cùng khi bị tước mất công việc vừa có, nhiều nhà trọ cũng từ chối gia đình anh.

Truy đuổi đến cùng

Những hành động ép người vào đường cùng như trên liệu có ngăn chặn được những tiếng nói bất đồng?

Bạn bè, độc giả blog LS Lê Trần Luật chưa kịp vui khi đọc tựa đề bài viết “Việc làm mới” của anh vào ngày 20/4 đã phải nén một tiếng thở dài khi đọc đến đoạn cuối bài viết.

LS Lê Trần Luật tâm sự trên blog:

Vậy là tôi thất nghiệp đã hơn một năm ba tháng rồi. Suốt thời gian đó tôi cũng cố gắng xin việc nhiều nơi nhưng không thành. Đa số những nơi tôi xin việc đều từ chối khéo. Có nơi họ cũng thẳng thừng từ chối khi nghe đến tên tôi. Có nơi định nhận tôi vào làm việc thì ngay lập tức nơi đó nhận được “trát làm việc” của cơ quan an ninh. Sau đó tôi gọi điện nhiều lần nhưng họ không trả lời tôi nữa.

Sau nhiều lần thuyết phục, cuối cùng tôi cũng được một người nhân viên cũ nhận vào làm việc trên tinh thần hợp tác. Tất nhiên bây giờ anh ấy là Sếp của tôi… Sáng hôm qua mọi chuyện sắp đặt văn phòng xem như đã hòan tất. Tôi nghe Sếp bảo thứ năm này sẽ cúng khai trương…

Khoảng 3h chiều tôi nghe Sếp điện thoại và báo có ông Long nào bên an ninh gọi điện và yêu cầu Sếp sáng mai đúng 8h lên công an phường làm việc. Tôi hỏi lại làm việc gì? có giấy mời gì không? Sếp tôi trả lời với giọng yếu hẳn: “ Nó bảo làm việc về chuyện anh tới đây làm, có góp vốn không hay làm công ăn lương, em biết anh rồi mà nhận vô làm gì, hỏi nhiều lắm”. Tôi cố hỏi thêm: còn gì nữa không? Sếp bảo:“Nó nói anh là phần tử chống đối, hay viết bài trên mạng, và trả lời báo đài nuớc ngòai, nó sẽ kiểm tra và thu máy của văn phòng, có khi nó dẹp luôn cả văn phòng liệu hồn mà tính”…

Sáng nay, sau khi chở con đi học về, vợ tôi hỏi:“Anh không đi làm à?”. Tôi im lặng vì không biết nên trả lời như thế nào.


Luật sư Lê Trần Luật (giữa).

Trước đó chưa đầy một tuần, ngày 15/4, nhiều bạn bè đã chia sẻ với LS Lê Trần Luật về câu chuyện “Nhà mới” thuê sau khi liên tục gặp rắc rối với những căn nhà thuê trước đây. Qua blog, LS Lê Trần Luật cho biết:

Sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng tôi cũng phải trả nhà lại cho chủ và dọn về chỗ ở mới. Thật ra, chủ nhà cũng đã nhiều lần yêu cầu tôi trả lại nhà dù chưa hết thời hạn thuê. Tôi hoàn toàn hiểu và cảm thông với họ. Sau sự kiện Người Buôn Gió đến thăm, quan hệ giữa tôi và chủ nhà trở nên căng thẳng hơn…

Từ hơn một năm qua, những câu chuyện nhà của LS Lê Trần Luật đã không còn xa lạ đối với bạn bè và giới blogger. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, theo nhận xét của nhiều blogger, LS Lê Trần Luật đang bị đẩy dần đến bước đường cùng với tình trạng không nhà ở, không việc làm!

Các blogger nói gì?

Tin tức về tình trạng của LS Lê Trần Luật được khá nhiều blogger quan tâm chia sẻ. Có những nhận xét chân thành, chẳng hạn như “cái tâm của con người Việt Nam trong lúc này cần được giấu kỹ, phơi ra là bị gặm, bị day, bị dày vò, bị đánh cắp, bị ăn cướp ngay. Nên bây giờ, ai sống công khai với cái tâm như anh là dại, sẽ chỉ như những số phận tự nạp mạng, rồi bị diệt đơn lẻ. Từ 35 năm nay đã thế rồi. Chẳng phải mới đây đâu anh ạ”, lại có những câu hỏi đầy bức xúc như “Tại sao họ cứ xem dây như là kẻ thù của họ??? Người dân không tấc sắt trong tay, chỉ có bàn phím và cái miệng mà họ phải sợ như thế hay sao?”. Trong khi đó, blogger “giahien” cho rằng những sự việc xảy ra với LS Lê Trần Luật giống như “mật vụ SS phát xít rượt đuổi trù dập dân gốc Do Thái”.

Tương tự, blogger Bút Thép nhận xét:

Những gia đình người ta đã cho anh Lê Trần Luật thuê ở rồi mà lực lượng an ninh tác động đến để những gia đình đó không dám cho anh ấy ở thì những việc làm như vậy, nếu có, thì rất vô nhân đạo. Nó thể hiện sự man rợ, đẩy con người ta đến bước đường cùng, phải chống lại chính quyền.

Bên cạnh những nhận xét trên, còn có một số phát biểu khác tuy hài hước nhưng cay đắng, chẳng hạn như “Tui nghĩ cái ông anh Lê Trần Luật này hổng phải là người Việt Nam. Nếu anh Luật là người Việt Nam, chẳng lẽ anh lại trở thành nô lệ trên chính quê hương của mình???”. Tất cả những phản ứng của giới blogger cho thấy sự bất mãn và phẫn nộ ngày càng tăng khi họ phải liên tục chứng kiến những pha “rượt đuổi” hòan tòan không cân sức giữa chính quyền và người dân.

Vào cuối năm ngoái, Bộ Ngoại giao Việt Nam từng khẳng định: “Tại Việt Nam, không có ai bị bắt, giam giữ và xét xử vì bày tỏ chính kiến”. Tuy nhiên, những rắc rối, khó khăn tột cùng xảy ra trong cuộc sống của một người ngay sau khi họ bày tỏ chính kiến của mình, theo lời của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, là một mánh khóe của chính quyền. Ông nói:

Đó là những mánh khóe của nhà cầm quyền Hà Nội, luôn luôn làm cho người dám lên tiếng nói sợ hãi. Người tiếp xúc với chúng tôi cũng sợ hãi.

Tuy nhiên, ngay trong những nhận xét của các blogger đối với trường hợp của LS Lê Trần Luật, thì chính những hành động dồn ép, uy hiếp lại khiến cho nhiều người hiểu hơn về những chuyện phía sau hậu trường. Blogger “vietnamtudo7” cho rằng “những hành động đánh phá những người bênh vực cho lẽ phải, cho công lý như anh LS Luật làm cho quần chúng càng ngưỡng mộ anh, mà tôi là một trong số đó”. Tương tự, blogger “baobinh29nb” nhận xét: “càng có nhiều những vụ như thế này thì mọi người mới hiểu thực chất vấn đề là gì thì mới mong có sự thay đổi”. Như vậy, có thể hiểu “bước đường cùng” của một số trường hợp đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền lại là bước mở đầu cho một thay đổi tốt đẹp hơn trong tương lai chăng?! Riêng LS Lê Trần Luật dí dỏm gọi những sự việc xảy đến cho mình là “âm mưu diễn biến hòa bình”!

***********************************************


Bà Phạm Thị Phượng và chồng bị mật vụ CSVN bắt cóc tại Bangkok, Thái Lan. Hình do gia đình cung cấp.

HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN BỊ MẬT VỤ CSVN BẮT CÓC

Hai vợ chồng người tỵ nạn Việt Nam bị mất tích ở Thái Lan

Thanh Quang, phóng viên RFA

Cách đây khoảng một tuần, vợ chồng người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, được Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) ở Thái Lan công nhận, bị bắt cóc ngay tại thủ đô Bangkok.





Câu hỏi được nêu lên là ai đã thực hiện hành động này. Và giới chức liên hệ cần có phản ứng ra sao để ngăn chận những hành động như vậy tái diễn ở xứ Chùa Vàng – cũng như đã từng diễn ra ở xứ Chùa Tháp. Mời quý vị theo dõi bài tường thuật từ Bangkok của Thanh Quang như sau:

Mật viên Việt Nam bắt cóc

Theo lời kể của người con trai tên Phạm Bá Tâm sau khi nhận được cú điện thoại thoáng qua của mẹ em, thì ba mẹ của em, là ông Phạm Bá Huy và bà Phạm Thị Phượng, bị một nhóm mật viên Việt Nam sang tận Thái Lan để thực hiện hành động bắt cóc này.

Em Phạm Bá Tâm cho biết:

Phạm Bá Tâm: “Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 15 tháng Tư vừa rồi, ba mẹ nói là ra ngoài để mua đồ cho gia đình cũng như thường lệ. Đến chiều tối không thấy ba mẹ về, em nghĩ vấn đề có thể là do kẹt xe hay vấn đề gì đó của Thái Lan. Nhưng rồi đến khuya cũng không thấy ba mẹ về, em đã cố liên lạc với Cao Ủy Ty Nạn. Đến chiều tối ngày 16, lúc khoảng 7 giờ rưỡi tối, em nhận được cú điện thoại từ mẹ, cho biết rằng ba mẹ bị cảnh sát Việt Nam bắt. Cú điện thoại này của mẹ thình lình bị cắt. Em đã liên lạc nhiều nơi, với thiếu tá Mark, với phía Cao ủy Tỵ nạn nhằm giúp tìm kiếm ba mẹ.


Thủ đô Bangkok, Thái Lan.

Sau một thời gian, đến ngày hôm qua thứ Tư ngày 21/04, lúc 10 giờ rưỡi sáng, thì em nhận được cú điện thoại của chú ruột em từ Việt Nam, thông báo rằng ba mẹ bị cầm tù tại Sài Gòn, tại cơ quan công an điều tra. Bây giờ bên phía gia đình không thể gặp mặt ba mẹ được. Và những người thân đều bị bắt”.

Theo lệnh triệu tập khẩn của Cục An ninh Đảng bộ TPHCM mà chúng tôi nhận được, thì – nguyên văn: “Việt Nam yêu cầu tên Phạm Thị Phượng buộc phải trở về Việt Nam nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp chính phủ CHXHCN Việt Nam”. Vẫn theo nguyên văn của văn bản này, thì “bà không thể nào đủ sức để dựa vào cao ủy liên hợp quốc tại Thái Lan khi bà vẫn mang trọng án cao nhất của luật pháp nước CHXHCN Việt Nam”. Lệnh triệu tập này cảnh báo rằng nếu bà Phạm Thị Phượng không tự nguyện trở về Việt Nam thì – nguyên văn - “ Đội an ninh mật đóng tại Thái Lan sẽ thi hành công lệnh không phải thông qua cao ủy liên hợp quốc... kể cả chồng bà và 6 đứa con”.

Trước tình cảnh như vậy, 6 người con của hai người tỵ nạn Việt Nam vừa nói rất khủng hoảng, như em Phạm Bá Tâm cho biết:

Phạm Bá Tâm: “Cháu và các em tất cả 6 người vẫn đang chờ đợi vì chưa biết rằng sẽ đi về đâu. Phía chính quyền Mỹ hay Cao ủy Tỵ nạn sẽ giúp đỡ, bảo vệ cho anh em cháu thoát khỏi sự đe dọa, theo dõi, bắt bớ đưa anh em chúng cháu về Việt Nam. Anh em cháu hiện rất sợ. Đây là một sư đe dọa rất nặng nề, làm tụi cháu bị khủng hoảng”.

Chúng tôi đã tiếp xúc với con trai của ông bà Phạm Bá Huy và Phạm Thị Phượng là em Phạm Bá Tâm như vừa nói để tìm hiểu thêm về hoàn cảnh khó khăn, nếu không muốn nói là nguy hiểm, của gia đình họ, như quý vị nghe sau đây:

Thanh Quang: Ba mẹ và 6 anh em cháu qua Thái Lan hồi nào?

Phạm Bá Tâm: Tháng 10 năm 2002.

Thanh Quang: Gia đình cháu qua đây thì nói chung triển vọng được định cư ở Mỹ ra sao?

Phạm Bá Tâm: Khi gia đình cháu rời khỏi Việt Nam với mục tiêu là chạy trốn khỏi chế độ cộng sản, thì khi tới đây, mới đầu, chưa có mục tiêu là vào Liên Hiệp Quốc hay tới đâu, mà chỉ mong chạy khỏi đất nước thôi. Bởi vì ba mẹ đã bị tù đày, giam cầm tại đất nước cộng sản Việt Nam.


Giấy của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) ở Thái Lan công nhận quy chế tỵ nạn cho bà Phạm Thị Phượng. Hình do gia đình Bà gởi cho RFA.

Thanh Quang: Tù đày như vậy thì riêng mẹ cháu đã bị Việt Nam nhốt bao lâu?

Phạm Bá Tâm: Mẹ cháu vì trước kia là mật viên của Mỹ và làm cho Việt Nam Cộng Hòa, nên sau 30 tháng Tư năm 1975, mẹ bị bắt giam hết 4 năm tại Mật khu 5 của chế độ cộng sản. Và mẹ được thả ra vào cuối năm 1979. Còn ba cháu là lính không quân Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi cộng sản vào chiếm Miền Nam thì họ bắt cả gia đình đi vùng kinh tế mới tại nông trường Thọ Vực.

Thanh Quang: Trước khi ba mẹ cháu bị bắt cách nay mấy hôm, triển vọng định cư của gia đình cháu đã tới đâu rồi?

Phạm Bá Tâm: Vấn đề định cư của gia đình cháu thật không may mắn, mất rất nhiều thời gian. Có rất nhiều điều đã xảy ra không tốt cho gia đình. Và gia đình cháu vẫn trong giai đoạn chờ đợi bên Cao ủy Tỵ nạn giúp đỡ, tìm một nước để đi định cư.

Thanh Quang: Ngay bây giờ, phản ứng của Cao ủy Tỵ nạn ra sao?

Phạm Bá Tâm: Ngay khi được tin ba mẹ bị bắt, thì Cao ủy nói là tìm mọi cách để giúp đỡ cho gia đình. Hiện chưa thấy họ giúp đỡ bằng cách nào, chỉ biết là họ đang làm việc để giúp cho gia đình cháu thôi.

Vi phạm luật pháp quốc tế

Một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, thiếu tá hồi hưu Mark A. Smith đang có mặt tại Bangkok, quen biết nhiều với bà Phạm Thị Phượng khi bà được huấn luyện làm nhân viên tình báo Mỹ hồi năm 1969 và rồi phục vụ cho chương trình đặc biệt do Thiếu tá Mark đánh giá. Thiếu tá Mark nhận xét trường hợp vợ chồng hai người tỵ nạn này như sau:

Major Mark: “Đây là vấn đề mang tính cách quốc tế. Nếu những người từ Việt Nam tới đây, tôi không cần biết họ lo lót cho cảnh sát Thái như thế nào, nhưng họ tự tiện bắt người đưa ra khỏi Thái Lan, trong khi xứ Thái là một nước dân chủ, pháp trị. Ngay tại Thái Lan, họ phải ra tòa, giải thích với tòa án Thái Lan lý do tại sao những người mà họ bắt cần đưa trở lại Việt Nam, vì đã là tội phạm, hay gì gì đó. Đằng này mật viên Việt Nam tự tiện bắt người và chớp nhoáng đưa trở lại Saigon. Điều này có nghĩa là họ vi phạm thỏa thuận ASEAN, thỏa ước quốc tế, vi phạm quy chế của LHQ bảo vệ người tỵ nạn như trường hợp hai vợ chồng ông Phạm Bá Huy và bà Phạm Thị Phượng, và cả luật lệ của Vương Quốc Thái.

Do đó, câu hỏi trong thời điểm này là tất cả những chính phủ liên hệ phải phản ứng như thế nào trước việc Việt Nam cho mật viên tự tiện đến Thái Lan để bắt cóc người theo ý họ. Nếu có sự nhúng tay nào đó của người Thái – như cảnh sát Thái - cũng rất có thể, nhưng hành động vừa rồi của Hà Nội là bất hợp pháp. Và chuyện 2 vợ chồng tỵ nạn Phạm Bá Huy và Phạm Thị Phượng đang ở Sài Gòn hiện giờ chỉ có mật vụ Việt Nam là câu trả lời cho sự việc liên quan hành động họ đến đây, tiếp xúc với ai để rồi bắt người và chuyển ra khỏi Vương Quốc Thái trong thời gian rất ngắn. Nên đây không phải chỉ là vấn đề vi phạm nhân quyền, mà đây còn là vấn đề vi phạm đến an ninh quốc gia của Vương Quốc Thái, và cũng có liên hệ đến an ninh quốc gia của cả Hoa Kỳ.”

Và Thiếu tá Mark Smith nhân tiện bày tỏ sự mong mỏi như sau:

Major Mark: “ Do đó, tôi tin tưởng, hy vọng và cầu mong Việt Nam thả hai vợ chồng anh Phạm Bá Tân để họ được đoàn tụ với 6 người con của họ, sau cùng rồi, tại Hoa Kỳ. Và chính phủ Hoa Kỳ phải can thiệp, chính sách Mỹ đòi hỏi Washington phải hành động để giúp đỡ gia đình này. Và đó là điều dĩ nhiên.”

Vụ bắt cóc người Việt Nam tỵ nạn vừa nói tại xứ Chùa Vàng khiến người ta liên tưởng đến những vụ mật viên Việt Nam bắt cóc người tỵ nạn ở xứ Chùa Tháp, mà cụ thể là trường hợp của Thầy Thích Trí Lực hiện định cư tại Âu Châu. Thầy Thích Trí Lực kể lại như sau:


Văn phòng UNHCR nằm trong khuôn viên trụ sở LHQ ở Thái Lan. Photo courtesy of UN Thailand.

Thầy Thích Trí Lực: “Dạ trong thời gian tôi qua và gởi đơn xin tỵ nạn tại Cao ủy Tỵ nạn ở Phnom Penh vào năm 2002, chúng tôi là người Kinh, không được ở trong trại tỵ nạn, cho nên phải thuê nhà ở ngoài. Điều cần phải biết là sau khi bộ đội Miền Bắc rút khỏi Campuchia, họ đã cài lại rất nhiều tình báo, núp dưới hình thức thương gia, kết hôn với người bản xứ hay hoạt động cho tình báo Việt Nam. Tôi là một nạn nhân của chế độ CS Việt Nam. Tôi còn nhớ vào ngày 25 tháng 7 năm 2002, lúc chạng vạng, tôi ra chợ Ô-Xây ở đường 185 để mua đồ dùng. Khi quay người lại thì một số người lạ mặt chận sau lưng tôi và vài ba người tấn công tôi, đẩy tôi lên một chiếc xe đậu sẵn bên lề đường. Họ đánh đập tôi trên xe, rút trong túi tôi thẻ tỵ nạn do LHQ cấp cho tôi ngày 28 tháng 6 năm 2002. Xe chạy một quãng, rồi vào một cơ quan mà dưới ánh đèn điện, tôi thấy rõ có chữ “cảnh sát quốc tế”.

Rồi họ chuyển tôi sang một chiếc ô-tô nhỏ đậu gần đó, mang biển số Khmer 2475. Họ ghé vào một đồn công an Campuchia gần bùng binh cầu Sài Gòn, nhốt tôi một đêm ở đó. Sáng hôm sau, ngày 26 tháng 7 năm 2002, họ chở tôi hướng về cửa khẩu Mộc Bài ở tỉnh Tây Ninh, rồi chuyển giao cho Bộ Công an Việt Nam đã chờ sẵn tại biên giới. Sau đó họ đưa tôi vào trại giam B34 tọa lạc ở số 237 đường Nguyễn văn Cừ, quận 1, Sài Gòn. Họ giam giữ tôi 15 tháng trời, rất nghiêm ngặt. Bên ngoài, người thân, bạn bè không biết tôi còn sống hay đã chết.

Thanh Quang: Như vậy Thầy nhận xét như thế nào về hành động bắt cóc của mật viên Việt Nam tại xứ nguời?

Thầy Thích Trí Lực: Nhà cầm quyền CS Việt Nam đã xem thường luật pháp quốc tế, đã ngang nhiên bắt cóc người tỵ nạn trên lãnh thổ láng giềng. Cơ quan tình báo mật vụ của Việt Nam đã tung hoành ngang dọc. Họ chẳng coi luật pháp quốc tế ra gì cả.

Vừa rồi là thầy Thích Trí Lực từ Âu Châu.

Thanh Quang tường thuật từ Bangkok, Thái Lan.

TRUNG CỘNG TRANH CHẤP ĐẢO BẠCH LONG VĨ VỚI VIỆT NAM? - KIẾN NGHỊ XÂY ĐÀI TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ HY SINH TẠI HOÀNG SA - TRƯỜNG SA


Vùng biển quanh đảo Bạch Long Vĩ - RFA Screen capture

Trung Quốc tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ với Việt Nam?
Ngọc Trân, thông tín viên RFA - 2010-04-07

Nghe Triết nói thì hay lắm nhưng không biết làm được gì. Sự thất tín và lật lọng của người cộng sản làm cho cả thế giới nghi ngờ tất cả những điều gì họ tuyên bố. Nói một đàng làm một nẻo là bản chất của văn hóa cộng sản. Thực tế chứng minh rằng cộng sản luôn làm ngược lại những điều họ tuyên bố: Thỏa thuận ngưng bắn trong các dịp Tết để tấn công quân dân miền Nam trong dịp Tết, ký hiệp định Paris tái lập lại hòa bình ở Việt Nam để công khai xâm lăng Miền Nam Việt Nam, miệng hô hào độc lập và quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ để đánh lừa nhân dân, âm thầm ký kết dâng đất dâng biển cho Trung cộng, ngày hôm trước công bố tin đổi tiền là thất thiệt để ngày hôm sau đổi tiền trên toàn miền Nam Việt Nam, ra lệnh đi "học tập cải tạo" để lùa vào bẫy nhốt tù quân dân cán chính miền Nam Việt Nam... ngút chỉ hàng chục năm trở lên, miệng tuyên bố chống áp bức bóc lột để tha hồ tham nhũng hối mại, bóc lột dân đen đến tận xương tủy, cán bộ nào to miệng nói "đạo đức cách mạng" nhiều nhất lại là những tên tham ô đồi trụy và tàn ác nhất... Vì vậy, phải rất thận trọng khi nghe những tuyên bố hay ho từ miệng của các lãnh đạo Việt cộng, không chừng đó là chỉ dấu rằng bên trong đã âm thầm ký kết với Trung cộng, biến Bạch Long Vĩ thành... "Khu kinh tế hữu nghị Việt Trung" để giải quyết tranh chấp với nước anh em trong tinh thần hữu nghị gắn bó lâu đời giữa 2 đảng và nhân dân 2 nước ruột thịt"!!! Hãy chờ xem thực hư đến đâu. Nếu lần này mà chính quyền Việt Nam nói thật và làm thật thì đó là chỉ dấu đầu tiên cho thấy Việt Nam đang từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thực sự. Mong sao hồn thiêng sông núi và tổ tiên nòi giống Việt linh hiển, tống khứ cái chủ nghĩa ngoại lai vong bản cộng sản ra khỏi đất nước Việt Nam, để Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ quốc tế cộng sản hiện nay đang do Trung cộng lãnh đạo.

AHNT


Ảnh wikipedia - Chiến tranh Trung-Việt năm 1979 để lộ dã tâm của Trung cộng đối với Việt Nam. Việt cộng đã phạm một sai lầm lịch sử to lớn khi cho phép Trung cộng khai thác bâu-xít và đưa người vào Tây nguyên, cho Trung cộng và Đài loan khai thác rừng, và cắt nhượng đất biển cho Trung cộng. Lực lượng người Hoa làm gián điệp dẫn đường cho Trung cộng trong cuộc chiến Trung-Việt chưa đủ đông hay sao mà lại rước thêm bọn chúng vào. Những tên lãnh đạo của chế độ cộng sản Hà Nội và cái quốc hội bù nhìn nếu không bị Trung cộng mua chuộc thì là một bọn dốt nát về lịch sử, chỉ lo tham quyền cố vị, chỉ là một bè lũ bất tài, vô đức, phản bội tổ tiên và dân tộc. Chiến tranh giữa Trung cộng và Việt Nam là không thể tránh khỏi nếu không muốn gục mặt chịu nhục trước quân thù và làm nô lệ cho bọn Tàu phù. Mà cho dù có cam tâm làm nô lệ cho chúng đi nữa, thì tức nước vỡ bờ chịu không nổi, cũng phải đứng đậy mà đấu tranh để được sống: "Độc lập, tự do hay là chết".

Như chúng ta đã biết, Đảo Bạch Long Vĩ nằm trong Vịnh Bắc Bộ, thuộc thành phố Hải Phòng của Việt Nam. Vị trí đảo Bạch Long Vĩ được cho là rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh và quốc phòng ở khu vực Vịnh Bắc Bộ.

Thế nhưng, tin tức gần đây cho thấy có lẽ Trung Quốc đang tranh chấp với Việt Nam về hòn đảo này. Mời quý thính giả cùng Ngọc Trân tìm hiểu thêm.

Sơ lược về Bạch Long Vĩ

Đảo Bạch Long Vĩ là hòn đảo thuộc huyện Bạch Long Vĩ, trực thuộc thành phố Hải Phòng. Đảo này nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, cách thành phố Hải Phòng khoảng 110 km, có diện tích khoảng 2,5 km² khi nước thủy triều lên cao và khoảng 4 km² khi thủy triều xuống thấp.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ra thăm nói chuyện với Thanh niên xung phong ở đảo Bạch Long Vĩ. Courtesy baotuyenquang online

Theo tin từ trang web của Huyện đảo Bạch Long Vĩ thì hòn đảo này có khoảng 80 hộ dân, với hơn 350 người đang sinh sống. Nhưng số người có mặt trên đảo thường nhiều hơn con số này cả chục lần, gồm các hộ gia đình, các doanh nghiệp, thanh niên xung phong và cán bộ nhà nước. Khách vãng lai cũng thường có mặt ở đây, đa số đến từ các tầu cá neo đậu xung quanh đảo, nếu tính cả khách vãng lai, dân cư trên đảo khoảng trên dưới 4.000 người. Ngoài ra, các đơn vị hải quân cũng có mặt trên hòn đảo này.

Lịch sử

Về lịch sử của hòn đảo Bạch Long Vĩ, theo hiệp ước ký kết giữa Pháp với nhà Thanh năm 1887, thì hòn đảo này thuộc về Việt Nam, lúc đó do chính phủ Pháp bảo hộ.

Trước đây, do không tìm được nguồn nước nên người dân không đến định cư ở đảo. Mãi đến năm 1920, sau khi tìm được nguồn nước ngọt, người dân Việt Nam đã chuyến tới sinh sống trên hòn đảo này bằng các nghề như: chăn nuôi, trồng trọt và khai thác thủy sản.

Đến năm 1937, vua Bảo Đại cho người tới đảo Bạch Long Vĩ lập đồn canh phòng. Sau đó, chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và quân Nhật đã ra Bạch Long Vĩ tước khí giới của quân lính Bảo Đại đang canh giữ ở đảo. Đến năm 1946, Pháp quay trở lại Đông Dương và tiếp tục khôi phục lại chế độ cai trị trên đảo.

Năm 1949, phe Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch đã thua trận, chạy ra Đài Loan và đến chiếm đảo Bạch Long Vĩ. Đến tháng 7 năm 1955, quân cộng sản Trung Quốc đổ bộ lên đảo, đánh đuổi quân Quốc Dân đảng ra khỏi đảo này.

Tháng 01 năm 1957, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tiếp nhận đảo và ra Nghị định số 49, quy định đảo Bạch Long Vĩ là xã trực thuộc Ủy ban Thành phố Hải Phòng. Nghị định này nhằm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hòn đảo, cùng với vùng biển, vùng trời và thềm lục địa xung quanh đảo.


Vị trí của Bạch Long Ví (điểm màu vàng) RFA screen capture

Do chiến tranh nên từ năm 1965, trên đảo chỉ có các lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ. Cho đến cuối năm 1992, chính phủ Việt Nam ra Nghị định thành lập huyện đảo Bạch Long Vĩ, thuộc thành phố Hải phòng và kể từ đó, lực lượng thanh niên xung phong cùng một số ngư dân đã được đưa ra sinh sống và làm việc tại hòn đảo này.

Bạch Long Vĩ trong Hiệp ước Vịnh Bắc Bộ

Theo Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đảo Bạch Long Vĩ vẫn thuộc về Việt Nam.

Liên quan tới vấn đề này, trả lời phỏng vấn trên báo Nhân dân trước đây, ông Nguyễn Dy Niên, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có nói: "Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km".

Ông Niên nói tiếp: "Theo Hiệp định, Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích Vịnh Bắc Bộ và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích. Đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, tức đảo được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý."

Và ông Lê Công Phụng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cũng đã xác nhận điều này trong bài phỏng vấn đăng trên Tạp chí Cộng Sản hồi tháng 1 năm 2001 như sau: "Phần Vịnh phía ta có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam, Trung Quốc, khoảng 130 km. Về diện tích tổng thể ta được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc được 46,77%, đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý."

Diễn biến mới nhất

Thế nhưng mới đây, theo tin tức từ các cơ quan truyền thông trong nước và báo chí nước ngoài thì dường như Trung Quốc đang tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ với Việt Nam.

Theo tin từ báo Việt Nam Net và báo Tuổi Trẻ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ra thăm đảo Bạch Long Vĩ trong 3 ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4. Tại đó, ông Nguyễn Minh Triết đã khẳng định: "Dù là đảo nhỏ nhưng Bạch Long Vĩ là tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và là hòn đảo tiền tiêu có ý nghĩa quan trọng cả về an ninh quốc phòng lẫn kinh tế - xã hội."

Ông Chủ tịch nhấn mạnh: "Đối với biên giới, lãnh hải, chúng ta luôn muốn hòa bình hữu nghị giữa hai dân tộc, giữa các dân tộc có biên giới với chúng ta, đó là mong muốn của nhân dân. Có hòa bình, hữu nghị thì nhân dân mới có cuộc sống ổn định, đó là thiện chí của cả dân tộc VN suốt hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Làm việc này trên cơ sở thương lượng, trao đổi, vận động, thuyết phục.

Không vì vậy mà để cho bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình. Khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, quyết tâm không gì lay chuyển được của Đảng, Nhà nước. Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng."

Riêng báo chí nước ngoài, trong mấy ngày qua cũng có đề cập đến việc tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ. Trong một bài báo đăng trên tờ EarthTimes ngày 2 tháng 4 với tựa đề “Lãnh đạo Việt Nam nguyện bảo vệ lãnh thổ trên Biển Đông”, có nhắc tới việc Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết được hai tàu hải quân hộ tống ra thăm đảo Bạch Long Vĩ. Bài viết có đoạn: "Việt Nam đã kiểm soát Bạch Long Vĩ từ năm 1957, nhưng một số viên chức Trung Quốc tranh chấp với Việt Nam về hòn đảo này."

Sau đó, một bài báo có tựa đề “Hà Nội để mắt tới lá bài Asean trên Biển Đông”, số ra ngày 4 tháng 4, trên tờ South China Morning Post, có 2 đoạn cũng nhắc lại việc tranh chấp hòn đảo Bạch Long Vĩ. Bài báo viết: … "Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đi tới một hòn đảo đang tranh chấp để nói với các sĩ quan hải quân Việt Nam chuẩn bị “chiến đấu cho chủ quyền của tổ quốc trong bất kỳ tình huống nào”.

Và một đoạn khác trong bài báo viết rằng: "Hôm thứ sáu, ông Nguyễn Minh Triết đã tổ chức một chuyến viếng thăm hiếm hoi tới một căn cứ hải quân Việt Nam trên hòn đảo đang tranh chấp Bạch Long Vĩ giữa miền Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam."

Qua các tin tức trên các phương tiện truyền thông trong nước và nước ngoài trong mấy ngày qua, có những điều bất thường về hòn đảo này. Phải chăng Trung Quốc đã muốn hòn đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam?


Tưởng niệm Anh hùng Tử sĩ Hoàng Sa tại Houston-Texas vào chiều 17 tháng 1 năm 2010 - RFA Photo

KIẾN NGHỊ XÂY ĐÀI TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ HY SINH TẠI HOÀNG SA - TRƯỜNG SA

Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-04-05

Còn ý thức hệ cộng sản trong não bộ của các nhà lãnh đạo Việt Nam thì không bao giờ đề nghị của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ được chấp thuận cả. Ngược lại, nhà nước cộng sản Việt Nam sẽ âm thầm tiếp tục gởi người sang cúng tế đền thờ tên giặc Hán xâm lược Mã Viện hằng năm, và gởi phái đoàn sang dự lễ tưởng niệm "các chiến sĩ giải phóng quân Trung quốc đã hy sinh trong cuộc xâm lăng Việt Nam năm 1979". Ngày mà đài tưởng niệm các chiến sĩ VNCH hy sinh trong trận tử chiến Hoàng Sa được chính quyền cho xây dựng tại Việt Nam cũng là ngày đất nước và dân tộc Việt Nam bắt đầu thoát khỏi cái quốc nạn cộng sản. Không chừng nay mai gì đây ông Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ lại ôm chiếu vào nằm nhà tù cộng sản vì mấy cái đề nghị "yêu nước... nhưng phản động, vì không yêu chủ nghĩa xã hội, lại yêu Mỹ Ngụy!!!" v.v... Cứ nhin xem việc đàn áp tôn giáo và các nhà hoạt động dân chủ đang diễn ra, cũng thấy được tương lai không có gì khả quan lắm của ông Cù Huy Hà Vũ!

Hãy chờ xem!


AHNT

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ vừa gửi một kiến nghị lên các cấp cao nhất của chính phủ VN, yêu cầu xây dựng đài tưởng niệm 58 binh sĩ quân lực VNCH đã hy sinh tại Hoàng Sa vào năm 1974.

Mặc Lâm có cuộc trao đổi với ông để biết thêm chi tiết về câu chuyện này.



Bày tỏ lòng biết ơn

Mặc Lâm: Thưa tiến sĩ, chúng tôi được biết ông vừa đưa ra môt kiến nghị rất đặc biệt yêu cầu nhà nước cho xây dựng một đài tưởng niệm các liệt sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến với Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Xin ông cho biết động lực nào đã thúc đẩy ông làm việc này, thưa ông?

TS Cù Huy Hà Vũ: Tổ Quốc Việt Nam là tổ quốc chung của mọi người Việt Nam bất kể quan điểm chính trị, bất kể trong triều đại phong kiến hay trong thời đại cộng hòa, bất kể trong giai đoạn hiện tại hay quá khứ. Tổ Quốc Việt Nam chỉ có một, cho nên việc bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam mà cha ông ta đã làm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam.

Trước tình hình hiện nay, Việt Nam đang bị Trung Quốc đe dọa xâm lăng, đe dọa thôn tính bằng vũ lực, mối đe dọa này là hiện hữu. Ngoài chuyện năm 1974, Trung Quốc đã cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa mà lúc đó do Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa làm nhiệm vụ trấn giữ thì sau năm 1975 đến năm 1988, Trung Quốc lại cho hải quân đến đánh chiếm quần đảo Trường Sa và tất nhiên vấp phải sự chống cự rất là mãnh liệt của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Trung Quốc cũng không có thể chiếm toàn bộ như đã chiếm Hoàng Sa vào năm 1974 nhưng họ cũng đã chiếm đảo Gạc-ma ở quần đảo Trường Sa đó.

Cho đến hiện nay, như chúng ta đã thấy, Trung Quốc gia tăng áp lực đối với Biển Đông của Việt Nam. Mọi tàu thuyền đánh cá của chúng ta đi ra những vùng thuộc chủ quyền của chúng ta, như ở quần đảo Hoàng Sa, đều bị Trung Quốc bắt giữ, đòi tiền chuộc, thậm chí họ còn có hành vi có thể nói là xúc phạm đến nhân phẩm lẫn thể xác của ngư dân chúng ta.

Mặc Lâm: Với sức mạnh của Trung Quốc như vậy thì liệu người Việt làm gì hơn được, thưa tiến sĩ?

TS Cù Huy Hà Vũ: Bây giờ có một lực lượng duy nhất, thế lực duy nhất có thể bảo vệ được nền độc lập của Việt Nam, bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đó chính là chủ nghĩa yêu nước, đó là tinh thần dân tộc của người Việt từ ngàn xưa. Để mà kêu gọi được tinh thần đó thì chúng ta phải biết công trạng của các liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ, để xây dựng và bảo vệ lãnh thổ Việt Nam mà hiện chúng ta đang có.


Bích chương của Trung Quốc nói về trận chiến ở Hoàng Sa 1974. Photo courtesy of Wikipedia

Mặc Lâm: Xin tiến sĩ cho biết cụ thể đài tưởng niệm mà ông đề nghị sẽ ghi công cho những ai?

TS Cù Huy Hà Vũ: Liên quan đến lãnh thổ Việt Nam ở trên biển hiện giờ đang là vấn đề gay cấn nhất thì chúng ta có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào ngày 19-1-1974 Trung Quốc đã cho quân đánh chiếm Hoàng Sa. Đã có 58 binh sĩ thuộc lực lượng Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu và anh dũng hy sinh. Họ dũng cảm nhưng thế và lực lúc đó của Trung Quốc mạnh hơn nên đã chiếm được toàn bộ.

Thế rồi đến năm 1988 Trung Quốc tiếp tục cho hải quân đánh chiếm vùng Trường Sa, với sự chiến đấu dũng cảm của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam nên Trung Quốc không thể chiếm đóng được nhiều và họ chỉ chiếm đảo Gạc-ma. Hải Quân Nhân Dân Việt Nam cũng đã có 64 chiến sĩ hy sinh anh dũng để bảo vệ nền độc lập Việt Nam. Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, hơn lúc nào hết, cần phải có tinh thần tích cực, cần phải có chủ nghĩa yêu nước.

Đặc biệt, trước sự đớn hèn của chính phủ Việt Nam, để mà khơi dậy lòng yêu nước của người Việt thì trước hết phải thể hiện lòng biết ơn đối với các liệt sĩ đã ngã xuống cho sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Vì thế, tôi kiến nghị các cơ quan có trách nhiệm của nhà nước Việt Nam xây dựng cái tượng đài gọi là "tưởng niệm liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng Sa - Trường Sa" với cái ý ban đầu là hãy tỏ lòng biết ơn các liệt sĩ. Từ đó mới có thể kêu gọi những người đang sống tiếp tục ngọn cờ yêu nước mà bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Khơi dậy lòng yêu nước

Mặc Lâm: Có một trở ngại mà ai cũng thấy, đó là làm sao để cho nhà nước Hà Nội nhìn nhận những binh sĩ VNCH là những liệt sĩ khi họ đã từng cầm súng chống lại Miền Bắc trong thời gian chiến tranh Việt Nam, thưa ông?

TS Cù Huy Hà Vũ: Trải qua mấy chục năm chinh chiến, dù có nói gì thì Miền Bắc có sự giúp đỡ của phe cộng sản như là Trung-Xô, hay là Miền Nam có được sự hỗ trợ hay là sự can thiệp trực tiếp của người Mỹ. Dù gì chăng nữa thì cũng vẫn là một cuộc nội chiến, một cuộc nội chiến gây đầu rơi máu chảy, cũng như cuộc nội chiến Nam-Bắc phân tranh thời nhà Nguyễn chẳng hạn. Chuyện đấy thuộc về lịch sử, chúng ta cũng không cách gì tránh được.

Mặc Lâm: Thưa tiến sĩ, điều gì làm cho ông tin rằng nhà nước phải chấp nhận kiến nghị của ông ạ?

TS Cù Huy Hà Vũ: Từ 1975 đến giờ như vậy là 35 năm rồi thì tôi cho rằng là không có lý gì vẫn căn cứ vào cái hệ tư tưởng để tiếp tục gây hận thù, kể cả trong các thế hệ họ chưa bao giờ biết đến chính cuộc chiến tranh Việt Nam. Cũng nhân kiến nghị xây dựng tượng đài tưởng niệm liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng Sa - Trường Sa, tất nhiên tôi viện lý do đầu tiên là khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, khơi dậy tinh thần yêu nước của người Việt Nam để khuyến khích tất cả mọi người Việt Nam xông tới để bảo vệ Tổ Quốc, còn có lý do thứ hai là chúng ta phải thực sự đi những bước đầu tiên để hòa hợp tất cả những người Việt Nam.


Lễ tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974, diễn ra ở Westminster-California. Photo courtesy of thangtien.de

Chúng ta không bỏ qua quá khứ, có những cái trong quá khứ cần phải xem xét thì chúng ta vẫn cứ phải tiếp tục xem xét, nhưng cái đó không phải là quan trọng nhất trong thời điểm hiện nay, mà quan trọng là chúng ta phải đoàn kết lại để bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam. Và chính vì thế tôi thấy là những chiến binh thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì Tổ Quốc Việt Nam thì phải được công nhận là liệt sĩ.

Không có lý do gì mà nhà nước Việt Nam hiện nay, hay nói một cách cụ thể hơn là nhà nước cộng sản Việt Nam hiện nay lấy cái lý do phân biệt giữa hai thể chế chính trị mà không công nhận, thì tôi cho đấy là sự bội phản với xương máu của những công dân Việt Nam đã hy sinh vì Tổ Quốc.

Mặc Lâm: Xin được hỏi tiến sĩ câu cuối, bản kiến nghị đã được ông gửi cho những ai, thưa ông?

TS Cù Huy Hà Vũ: Tôi đã gởi kiến nghị tới Quốc Hội Việt Nam, tới Chủ Tịch Nước Việt Nam, tới Thủ Tướng Việt Nam. Ngoài ra, tôi gởi cho một số những nhân vật với tính cách cá nhân, ví dụ Tổng Bí Thư Đảng CSVN, Chủ Tịch Quốc Hội VN chẳng hạn, là yêu cầu phải sớm thực hiện đài tưởng niệm liệt sĩ đó.

Mặc Lâm: Xin cám ơn TS Cù Huy Hà Vũ đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

THÁNG TƯ, ĐỌC BÀI VIẾT CŨ: SAU BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN, TÌM HIỂU SỰ THẬT VỀ ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)

Đường mòn Hồ chí Minh. Việt cộng từ đất Lào và Cao Miên liên tục xua quân xâm lăng miền Nam Việt Nam, với bản chất dối trá, gian manh và lừa đảo, chúng trắng trợn xé bỏ tất cả mọi hiệp ước mà chúng đã ký kết. Khi nào cộng sản còn thì dân tộc Việt Nam phải nhớ nằm lòng câu nói này của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những việc cộng sản làm!" - Ảnh: PSYOP

THÁNG TƯ, ĐỌC BÀI VIẾT CŨ: SAU BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN, TÌM HIỂU SỰ THẬT VỀ ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)
Source: greenspun's archives

MƯỜNG GIANG
Tết 2005

Một năm sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, phái đoàn Bắc Việt do Trường Chinh đại diện và Ðảng Bộ Việt Cộng miền nam tức Mặt Trận Giải Phóng MN, dưới quyền Phạm Hùng, đã chính thức họp tại Sài Gòn, để khai tử cái Mặt Trận “ MA “, được Hà Nội dàn dựng và khai sinh từ ngày 20-12-1960, nhằm lường gạt dư luận thế giới và dân chúng trong nước, qua âm mưu thôn tính VNCH. Cũng từ đó (1976), cái gọi là con đường huyền thoại Hồ Chí Minh, tức đường mòn Trường Sơn với bí danh 559A, hành lang để Hà Nội chuyển tiếp liệu, quân dụng và người vào Nam, từ năm 1959 tới ngày 30-4-1975, cũng bị đảng nhận chìm trong quên lãng.

Bắt đầu từ năm 1989 tới 1991, đã có nhiều biến cố chính trị quan trọng xảy ra tại Ðông Âu. Ðó là việc các nước chư hầu, lần lượt từ bỏ xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự sụp đổ và tan rã của Liên Bang Xô Viết. Ðể cứu đảng khi đã mất cái dù che của Nga, Việt Cộng lại ngả về Tàu, đồng thời mở khẩu đổi mới, trải thảm đỏ, mời Hoa Kỳ, Nhật và Tây Phương vào làm ăn buôn bán. Nhờ vậy lớp son phấn che kín bản mặt thật của đảng, dần hồi bị xói mòn, bởi các tệ trạng tham nhũng, cướp bóc nơi cửa quyền và nhất là sự kiện đảng công khai bán nước cho ngoại bang, hèn nhục để cho dân mình bị Tàu Cộng bắn giết trên biển mới xảy ra vào tháng 1-2005, đã làm cho cả nước không còn hãi sợ và tin Việt Cộng, kể cả một số không ít trí thức khoa bảng NamVN trước đây, từng tin đảng là chính nghĩa, làm cách mạng chỉ để giải phóng đất nước bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp bóc lột.

Ðể bảo vệ đảng cũng như quyền lợi của chóp bu đang hồi tiến nhanh tiến mạnh, Hà Nội lại lùi một bước, quay về với chiến lược cũ rích năm nào. Ðó là dùng lịch sử để lường gạt đồng bào và Việt kiều thêm lần nữa. Ðảng đem những huyền thoại trên trời dưới biển năm nao, ra hâm nóng lại tinh thần yêu nước là “ yêu nước xã hội chủ nghĩa “ của cán bộ đảng viên, đang bị phân hoá lung lay niềm tin tới tận gốc, vì giành ăn, tranh quyền và ganh tị lẫn nhau bởi “ trâu cột ghét trâu ăn “. Ngoài ra, đảng cho trùng tu lại các di tích chiến tranh, như Ðịa đạo Vĩnh Mốc ( Vĩnh Linh-Quảng Trị ), Củ Chi (Hậu Nghĩa), cũng như tái tạo lại con đường mòn Hồ Chí Minh. Công tác trên vừa có tính cách xoa dịu tự ái của những đảng viên bộ đội già bị vắt chanh bỏ vỏ, sau khi tàn chinh chiến. Ðồng thời lần nữa lừa bịp cũng như móc túi bọn du khách ngoại quốc, trong đó có không ít Việt Kiều trí thức Miền Nam ngày xưa trốn quân dịch, nên có bao giờ biết cũng như nếm được mùi chiến tranh bom đạn, và đám da trắng giàu có đa sự. Bọn này rất muốn biết và nhìn tận mắt con đường mà Hoa Kỳ, nói là đã oanh tạc một số bom đạn, nhiều hơn số lượng đã xử dụng trong thời đệ nhi thế chiến nhưng vẫn không ngăn nổi người và quân dụng Bắc Việt vào Nam. Việc đẻ ra kế hoạch “ mười năm du lịch “ 1995-2005 “ của Võ văn Kiệt tại nghị định số 307 ngày 24-5-1995, cũng là một trong những sự sao y bản chánh của Trung Cộng, vì thấy Ðặng tiểu Bình đã thành công, khi xây dựng các khu du lịch và công nghiệp tại Thẩm Quyến, Hải Nam, Thượng Hải... Từ đó Hà Nội đã bất chấp thực tế, vẫn hồng hơn chuyên, bỏ hằng tỷ bạc ngân sách quốc gia, để xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất và thành phố Vạn Tưởng, tại Quảng Tín-Quảng Ngãi, trước sự mai mỉa cười chê của thế giới. Khắp nước nơi nào cũng tổ chức các tour du lịch, để hốt bạc và tuyên truyền bộ mặt son phấn mới của VN xã nghĩa. Ngay chốn khỉ ho cò gáy như miền giới tuyến năm nào trong tỉnh Quảng Trị, cũng có một tour du lịch, từ Cửa Việt lên tới Khe Sanh, Tà Cơn, Cầu Treo DakRong, ngã ba QL9 và đường mòn HCM, gọi là The Demilitarized Zone tour, thường viết tắt là D.M.Z. Mục đích để đảng quảng cáo các chiến lợi phẩm thời chiến tranh và cái gọi là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, mà theo thân nhân của người quá cố, trong hòm chỉ có cát-đất mà thôi. Có đọc trường thiên ký sự “ Ðường đi không tới “ của nhà văn VC hồi chánh là Xuân Vũ, hay đã làm lính VNCH, mới cảm nhận được cái ý vị khổ nhục cùng tận của cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1955-1975), do Ðệ tam quốc tế cọng sản chủ xướng, qua vai trò tên lính tiền phương đánh mướn là Việt Cộng. Trong cuộc chiến vô nghĩa phi lý này, mặt trận tại Trường Sơn, đã là mồ chôn hằng vạn tử sĩ của cả hai phía. Những địa danh như Dốc pháo cụt, Ðồi không tên, Sông A-Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A-Shau, Ia-Drang, Pleime, Ðức Cơ... ra tận miền Bắc, càng lúc càng trở nên khốc liệt, khi nó chính thức trở thành con đường chiến lược để Bắc Việt xâm lăng VNCH. Suốt thời gian chiến tranh, Võ Nguyên Giáp qua tư cách Ðại Tướng tổng tư lệnh quân đội VC, đã từng tuyên bố với báo chí quốc tế, là hắn sẽ đốt rụi Trường Sơn, dù phải đem giết hết thanh niên nam nữ miền bắc. Cho nên không lạ khi thấy Xuân Vũ nói “ mạng người lá rụng “, để viết về thảm kịch Ðường Ði Không Tới, của một số cán binh bộ đội hồi kết năm nào.

Tháng 11-1997, Võ nguyên Giáp khoe thành tích Bát Quái Ðồ, tức là đường Trường Sơn 559, do Ðinh Ðức Thiện và Ðồng Sĩ Nguyên lần lượt chỉ huy suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Ngày xưa thế giới đui mù vì bị bọn trí thức khoa bảng, cha-sư miền nam tuyên truyền lật lọng, nên chẳng bao giờ thấy được hình ảnh bộ đội cọng sản “ sinh bắc tử nam “, khi ồ ạt vượt vĩ tuyến 17, vào đường mòn HCM, để tấn công cưỡng chiếm Miền Nam thanh bình no ấm, như họ đã thấy tại bán đảo Triều Tiên, vào tháng 6-1950, qua cuộc chiến Cao Ly. Nhưng biết sớm hay muộn cũng giống nhau, vì ngày nay trên khắp nẻo đường Trường Sơn năm cũ, từ Bắc Việt vào tới Phước-Bình Long, hằng ngày đã có hằng vạn nguời Việt, đói rách bị chĩa súng có gắn mã tấu sau lưng, để bắt họ làm nghĩa vụ lao động. Cũng qua cái hình ảnh đau thương này, đã làm cho mọi người trong cuộc của cả hai phía, chợt nhớ tới những cô gái Trường Sơn năm nào, luôn mỏi ngóng các chàng lính trận có lần đã đi vào con tim của họ. Ðể rồi từ đó tới nay, tuổi xuân tháp cánh lưng trời, mà bóng ai vẫn biền biệt, như cái huyền thoại Trường Sơn, thật sự đã chết trong tâm tư đồng bào sơn cước, khi họ bị VC cướp đất, lừa bịp... sau khi đất nước đã có hòa bình.

"mai về quê mẹ, lên biên giới

thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung

rừng núi vẫn xanh màu khát vọng

chỉ ta hờn tủi, kiếp tha hương ...”


1- Bối cảnh lịch sử có liên quan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975):

Ngày 7-5-1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ, nước VN tạm thời bị chia cắt thành 2 miền riêng biệt, với 2 thể chế khác nhau, do cái gọi là tứ cường Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Cộng tự ý quyết định số phận của đất nước và dân tộc VN, tại bàn hội nghị Genève ( Thụy Sĩ ). Hoa Kỳ lúc đó là đồng chủ tịch nhưng vì một lý do gì đó, nên không ký vào biên bản. Từ đó, Bắc Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo, công khai theo chế độ cọng sản và là chư hầu của Nga-Tàu. Miền Nam chọn chính thể Cọng Hòa. Hai miền VN lấy vĩ tuyến 17, cũng là con sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, làm ranh giới tạm chia. Theo tinh thần hiệp ước đình chiến, quân viễn chinh Pháp phải rút hết về nước, còn VC trong mặt trận Việt Minh tại miền Nam, cũng phải tập kết ra bắc.

Từ khi chính thức làm trùm nửa nước, Hồ Chí Minh và đảng VC, theo chân Mao Trạch Ðông, phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng đất năm 1956, làm cho hằng vạn người dân vô tội tại miền bắc bị đấu tố chết thảm thương, trong số này hầu hết đều có công với nước hay với đảng trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Nội vụ được giấu kín hay được bọn trí thức khoa bảng da trắng thân cộng như G.Kolko, tác giả quyển “ VN Anatomy of wars 1940-1975 “ tuyên truyền hoàn toàn trái ngược với sự thật.

Trong khi đó, tình hình chính trị của miền Nam từ A tới Z, bị bọn trí thức thân cộng trong và ngoài nước, moi móc, bịa đặt đủ điều vớí mục đích làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền Nam, trong lúc đang chiến đấu chống lại sự xâm lăng của đệ tam quốc tế. Tại VNCH, những năm đầu tiên, TT Ngô Ðình Diệm đã gặp rất nhiều khó khăn, trong việc đương đầu với với các Giáo phái và lực lượng Bình Xuyên. Lợi dụng giậu đổ bìm leo, VC nằm vùng tại miền Nam đã phát động các cuộc nổi loạn võ trang, gọi là đồng khởi tại Trà Bồng (Quảng Ngãi), Bắc Ruộng (Bình Thuận) và Mỏ Cầy (Bến Tre), song song với các vụ khủng bố, ám sát đồng bào và viên chức xã ấp khắp nơi nhưng cuối cùng mọi hành động phá rối của VC đều thất bại. Theo hầu hết các nguồn sử liệu còn lưu trữ, cho biết tình hình chính trị tại VNCH, vào những năm 1956, 1957, 1958 rất khả quan từ Sài Gòn cũng như các tỉnh, nơi thị tứ cho tới chốn quê làng, đâu cũng vui sống cảnh thanh bình no cơm áo ấm. Nhờ vậy TT Ngô Ðình Diệm cũng như Chính Phủ Miền Nam, lúc đó đã gây được uy tín rất lớn trên thế giới.

Trước tình hình nguy ngập đó, Hồ Chí Minh đã phải gọi Lê Duẩn, lúc đó đang làm xứ bộ trưởng, chỉ huy cán bộ nằm vùng tại miền Nam, trở ra Bắc, để duyệt xét lại kế hoạch cưỡng chiếm VNCH bằng vũ lực, thay vì kỳ vọng vào cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Genève 1954 đã qui định, mà VNCH không chịu thi hành, vì không hề ký vào biên bản hiệp ước trên. Trong phiên họp lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, khai diễn ở Hà Nội vào tháng 1-1959, quyết định thành lập Lực Lượng Vũ Trang tại Miền Nam. Kế tiếp ngày 5-10-1960, đảng lại họp Ðại Hội 3 cũng tại Hà Nội, để thành lập Ðảng Bộ Cọng Sản Miền Nam, qua danh xưng “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “, làm cánh tay nối dài, vừa là bình phong, vừa tạo công cụ xâm lăng cho Bắc Việt. Ðúng như Lê Duẩn đã tuyên bố “ Ðó là chiến lược bảo đảm thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác-Lê và giai cấp công nông “. Tóm lại theo chủ trương của Hà Nội, Ðảng Bộ CS miền Nam, tức MTGPMN, phải hành động theo ba mục tiêu chiến lược: 1- Ly gián đồng bào và chính quyền VNCH. 2- Ðánh lừa dư luận thế giới về cuộc xâm lăng của miền Bắc, trở thành cuộc nội chiến tại miền Nam. 3- Tuyệt đối phải tuân theo các chỉ thị của đảng, do miền Bắc lãnh đạo, Mặt trận miền Nam chỉ thừa hành, theo đúng chính sách đề cương trong khối xã hội chủ nghĩa quốc tế. Nên tới nay, dù được gọi bằng danh từ gì chăng nữa như Cục R, Ðảng bộ CS Miền Nam, Mặt Trận GPMN... thì cũng chỉ là “ Mặt trận mốc xì, đảng ta đó “ qua lời tuyên bố trơ trẽn của Lê Ðức Thọ tại Ba Lê, sau khi vừa ký xong với Kissinger trên tờ hiệp định ngưng bắn năm 1973.

MTGPMN được hợp thức hóa vào cuối tháng 12-1960 tại một căn cứ của VC, nằm cách biên giới Việt-Miên chừng 7km. Ðây là khu rừng già nằm kế cầu Cần Ðăng, trên con đường đá đỏ Trà Băng, Trại Bí, Xóm Mới, Sóc Ông Trang... thuộc tỉnh Tây Ninh. Buổi lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Sáu Vi, bí danh của đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên bộ chính trị, bí thư trung ương đảng, nguyên phụ trách vấn đề nông dân và thanh niên miền bắc. Mặt trận có mười nhân vật khoa bảng miền Nam, đang đối lập chính trị với VNCH, gồm Nguyễn Hữu Thọ (đang bị giam tại Củng Sơn-Phú Yên, vì tội hiếp dâm, được VC giải thoát ), Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn Cung, Ưng văn Kỳ... Bọn này hầu hết thuộc thành phần địa chủ, phú gia thời Pháp thuộc, được VC nằm vùng là Huỳnh tấn Phát móc nối dụ dỗ. Tất cả được Hà Nội đem ra làm bung xung che mắt thiên hạ nhưng đầu não lãnh đạo, vẫn do Lê Duẫn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Trần văn Trà, Nguyễn Chí Thanh... quyết định theo đúng chính sách của Hà Nội đã nghị quyết. Cũng từ đó, Nguyễn Hữu Thọ được phong hàm chủ tịch Mặt Trận, mở đầu cuộc chiến xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực.

Tại Miền bắc, Hồ Chí Minh ban lệnh hồi kết, hàng chục ngàn cán binh bộ đội trở về Nam, để thành lập “ Quân Giải Phóng “ do Trần Văn Trà làm tư lệnh. Một số lớn Hoa kiều sống tại Hải Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa... cũng được vào Nam, cùng một số Hoa Kiều thân cộng, đang do Tư Méo, tức Trương Gia Triều, bí danh Trần Bạch Ðằng chỉ huy, để trà trộn, tuyên truyền gây rối trong cộng đồng người Hoa miền Nam. Ðồng thời con đường mòn giao liên cũ, từ miền bắc vào Liên Khu 5, do đại tá Nguyễn Thông, bí danh của trung tá Nhật Ishitako, mở năm 1947, cũng được đảng giao cho Hai Xe Ngựa tức đại tá Võ Bẳm, nối lại, để trùng tu vào năm 1959. Ðây là con đường chiến lược Liên Việt, tức là đường mòn Trường Sơn hay Hồ Chí Minh, mang bí danh 559A. Sau khi Phạm văn Ðồng nhân danh thủ tướng nước VNDCCH, theo chỉ thị của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, ký xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Cộng vào năm 1958, thì Hà Nội được Tàu Cộng, giúp phương tiện mở thêm một đường dây trên biển Ðông với bí danh 559B hay 759, chuyển quân dụng và bộ đội từ bắc vào nam bằng đường thủy. Theo Ðồng văn Cống, từng phụ trách đường dây 559B từ 1959-1968, thì việc tổ chức hai con đường bí mật trên, chỉ có Hồ Chí Minh, Phạm văn Ðồng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Ðức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà, biết mà thôi. Còn những người khác chỉ thừa hành theo lệnh, kể cả Nguyễn Chí Thanh, Trần Ðộ, Trường Chinh...


Đường mòn Hồ chí Minh, khu vực màu vàng lợt là hành lang xâm nhập từ Lào và Cambodia, đường màu vàng đậm là đường mòn Shihanouk kéo dài xuống cảng Shihanouk Ville. Bản đồ cho thấy Việt cộng dùng Miên và Lào làm bàn đạp xâm lăng miền Nam Việt Nam - Ảnh wikipedia

2- Ðường Mòn Hồ Chí Minh:

Sự thật, những chuyện đã xảy ra hằng ngày , trên đường mòn HCM, tức là hành lang xâm nhập người và quân dụng, từ Bắc vào Nam của cọng sản Hà Nội, đối với Hoa Kỳ và VNCH, không phải là huyền thoại hay bí mật ghê gớm, vì những gì xảy ra ở đó, qua phi cơ thám thính và các toán Biệt Kích hoạt động, họ gần như biết đủ. Có chăng là sự lạ lùng, vì ai cũng biết VC là kẻ chủ mưu gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, chứ không phải là nội chiến. Ngoài ra cuộc xâm lược qui mô đều phát xuất từ đường mòn Trường Sơn, tiếp diễn liên tục đêm ngày không bao giờ gián đọạn. Thế nhưng quân lực Hoa Kỳ, Ðồng Minh và ngay cả VNCH, cũng bị chính phủ Mỹ tại Hoa Thịnh Ðốn, ra lệnh giới hạn trong lúc chiến đấu với VC, theo qui định tại nhiều điểm, được gọi là “Luật Chiến Ðấu - Rules of Engagement“. Ngoài ra cũng không được tấn cộng hậu phương miền bắc, để tránh sự đụng độ quân sự với Trung Cộng, như đã xảy ra năm 1950, tại chiến cuộc Cao Ly.

Năm 1985, sau mười năm chấm dứt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, Bộ Quốc Phòng Mỹ mới cho phép giảm độ mật, khi cho Congressssional Record phổ biến hạn chế, cái gọi là “Luật Chiến Ðấu tại VN“ qua 26 trang tóm tắt, trong đó có liên quan tới đường mòn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ vậy, ta mới biết được nhiều điều thật vô lý, chỉ có siêu cường Mỹ mới có. Chẳng hạn như trong luật chiến đấu, có điều 3 cấm không quân Mỹ giội bom các quân xa VC, nếu chúng ở cách đường mòn HCM 200m. Ðiều này giúp cho quân xa Bắc Việt an toàn khi chúng lái xe trên đường mòn Trường Sơn, lúc nghe máy bay Mỹ oanh tạc, chỉ cần lái xe ra khỏi vị trí 200m, là hết chuyện. Còn điều 6 thì cấm quân Mỹ truy kích VC, nếu chúng rút qua biên giời Lào hay Kampuchia. Biết vậy, nên hầu hết các căn cứ của Bắc Việt, kể cả cục R đều được lập sát hay bên kia biên giới, nên rất an toàn. Do trên, các cuộc hành quân vượt biên mang tên Toàn Thắng, vào năm 1970 tại Miên hay hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, vào thời TT Nixon, đã bị đảng Dân Chủ Mỹ thân cộng, căn cứ vào luật chiến đấu, la ó phản đối dữ dội. Cuối cùng tại Quốc Hội, cũng cái đám nghị sĩ-dân biểu đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, ra luật cấm quân lực Hoa Kỳ hành quân vượt biên khỏi Nam VN. Những bí mật nhỏ nhoi trên, chỉ là một trong muôn ngàn điều bật mí sau này, cũng là lý do, khiến cho Mỹ cũng như VNCH, dù đã nỗ lực và hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc, xương máu nhưng cuối cùng vẫn không ngăn nổi cuộc tiến quân của Bắc Việt, trên đường mòn HCM. Theo Ðồng Sĩ Nguyên, phụ trách Binh Ðoàn 559A từ tháng 12/1966 tới tháng 4/1975, thì đơn vị này có gần 2000 xe vận tải và 4 binh trạm, với nhiệm vụ tải người và quân dụng từ miền Bắc vào Nam. Quân số của Binh đoàn 559A trên 120.000 người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ phòng không của Bộ TTM/VC tăng phái và tám sư đoàn vận tải, chiến đấu trực thuộc. Sau ngày ký hiệp định ngưng bắn 1973, cọng sản Bắc Việt bãi bỏ giai đoạn gùi thồ đường đất và binh trạm, mà công khai chuyển quân từ bắc vào nam, mỗi lần cả sư đoàn tới binh đoàn, kể cả tăng-pháo, trước sự bất lực của VNCH khi Hoa Kỳ đã phủi tay về nước. Do trên cuộc hành trình chỉ mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước, nên VC lúc nào cũng đủ quân số và quân dụng, vì có cả một núi người sẵn sàng “ sinh bắc tử nam “, cũng như các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Trung Cộng, hết lòng chi viện. Trong lúc đó, VNCH chiến đấu với cả khối cọng sản đệ tam quốc tế trong cô đơn nơi chiến trường, đã vậy còn bị bọn cốt người mà óc khỉ tại hậu phương, công khai đâm hùa trí mạng. Chiến đấu trong hoàn cảnh thê thiết như vậy, không mất nước mới là chuyện lạ?

A - ÐƯỜNG MÒN TRƯỜNG SƠN:

Hầu hết con đường chiến lược HCM đều nằm trên rặng Trường Sơn, kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (Nghệ An), cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước Long. Rặng trường Sơn là xương sống của Trung phần, khởi đầu từ sông Cả tới sông Bông (Quảng Nam), chạy dọc theo biên giới Việt Lào. Từ bắc vào nam, có nhiều rặng núi cao trên 2500m, như Pu-Sai- Lai-Leng ở Nghệ An cao 2711m, Vụ Quang tại Hà Tĩnh cao 2286m, A Tuất ở Thừa Thiên cao 2550m... Nhưng nhờ có nhiều đèo như Kéo Nưa trên núi Bà Mụ, đèo Mụ Giạ ở Hà Tỉnh, đèo Lao Bảo trên quốc lộ 9, nên sự thông thương giữa Lào-Việt rất thuận tiện. Từ năm 1960 về sau, Bắc Việt lợi dụng những đường đèo trên, để nối liền nhánh Trường Sơn Ðông ở VN sang Trường Sơn Tây, hoàn toàn nằm trên đất Lào.

Rặng Trường Sơn từ phía nam sông Bông tới Miền Ðông Nam Phần, được gọi là Cao Nguyên Nam Trung Phần, vì độ cao chỉ còn trung bình 1000m, trừ phía bắc tỉnh Kon Tum, cửa ngỏ của Bắc Việt xâm nhập vào Vùng 2 chiến thuật, lại có nhiều rặng núi cao, rất đồ sộ và hiểm trở như Ngọc Lĩnh (2598m), Movia (2338m), Ngok Krin (2215m). Tại tỉnh Pleiku, cao nguyên Nam Trung Phần, hơi cao ở mạn đông tại ranh giới các tỉnh Phú Bổn, Bình Ðịnh nhưng lại thấp dần ở Miền Ba Biên Giới. Lợi dụng địa thế thiên nhiên vùng này, Hà Nội đã làm một nhánh rẽ, từ Ðức Cơ-Pleime xuống miền duyên hải Trung phần.

Khởi đầu từ năm 1959, đường mòn HCM do Hai xe ngựa (Võ Bẳm) sáng tạo, thật sự chỉ là một tuyến đường gùi vô cùng bí mật, với “ đi không để dấu, nấu không để khói và nói không thành tiếng “. Sau đó theo thời gian và nhu cầu chiến cuộc, tuyến gùi phát triển dần thành tuyến đường thồ xe đạp, rồi đường xe ô tô với đường dây điện thoại cùng hệ thống ống dẫn dầu, chạy song song kế đường mòn. Có thể gọi đây là một Bát Quái Trận Ðồ cũng không ngoa chút nào vì con đường có tới hằng trăm, hằng ngàn nhánh nhỏ, chạy chằng chịt dọc ngang, từ đông sang tây, khắp nam tới bắc, chẳng biết đâu mà mò, kể cả VC, nếu không có giao liên hướng dẫn, vẫn bị lạc chết đói, như Dương Thu Hương đã kể trong tiểu thuyết “Vô Ðề “. Sau năm 1973 khi hiệp định ngưng bắn ra đời, Kissinger cho phép quân Bắc Việt ở lại VNCH hợp pháp như là một thực thể chính trị, giúp Hà Nội ngang nhiên xây dựng con đường chiến lược trên, thành một xa lộ đất, xe cộ xuôi ngược rộn rịp đêm ngày. Năm 1974, chủ tịch cọng sản Cuba là Fidel Castro đã tặng cho Hà Nội, một dàn thiết bị máy móc, làm cầu đường do Nhật chế và còn giúp một đơn vị công binh, tới tận Quảng Trị hướng dẫn công binh Bắc Việt, làm chiếc cầu dây treo Dakrong, nằm trên ngã tư Khe Sanh-Tchépone và đường mòn. Sau đó chính Fidel Castro tới tận chỗ để làm lễ khánh thành cầu, còn được hướng dẫn đi thăm Ðông Hà, mà Bắc Việt khoe là vùng giải phóng, từ sau trận Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972.

Theo các tài liệu hiện hành của cả mọi phía, có trong thư viện và báo chí VC sau này, thì hệ thống đường mòn HCM, chạy dài từ Trung Lào tới Cam Bốt, sự thật là hoàn toàn nằm trên lãnh thổ Lào-Miên. Con đường này được xâm nhập vào lãnh thổ VNCH bằng năm nhánh rẽ với 21 trục giao liên, có chiều dài tính theo đường đất tổng cộng hơn 12.000 dặm Anh. Con đường được mang nhiều tên, và chỉ có đoạn trên lãnh thổ Bắc Việt mới được gọi là đường Hồ Chí Minh. Riêng khúc đường chạy trong lãnh thổ Lào và Nam VN lại có nhiều tên như đường Thống Nhất, Dân Tộc Giải Phóng và Cách Mạng. Còn đoạn cuối trên đất Miên là đường mòn Sihanouk. Ðể bảo toàn bí mật, tất cả hàng hóa, quân dụng, vũ khí và bộ đội xuất phát từ ga Hàng Cỏ (Hà Nội) hay Vinh (Nghệ An), đều được đưa tới cửa ngõ Tân Kỳ (Nghệ An) hay Quán Trại (Ðức Thọ-Hà Tĩnh), để vào Quảng Bình và Quảng Trị, rồi từ đó mới xuất tuyến xâm nhập vào Nam. Nhưng đường đi, dù ở trong lãnh thổ Bắc Việt, vẫn vô cùng nguy hiểm, vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc hằng ngày, nhất là tại thung lũng tử thần Ðồng Lộc. Ở đây, đường chạy giữa hai rặng núi cao, bên này là Rú Mòi, còn phía kia mang tên Sọ Voi. Ðây chính là cửa ngỏ đầu tiên, của đường mòn HCM, nối liền bắc VN tới lãnh thổ Lào. Từ đó đường mòn mang tên Trường Sơn Tây, tiếp tục tới Khâm Muôn (Lào), thì gặp Ðường 20 Quyết Thắng, từ Phọng Nhạ (Quảng Bình) sang. Khúc đường này dài hơn 127 km, chạy len lỏi giữa khu rừng già Kẽ Bàng và miền hoang địa Bulapha của Lào.

Theo báo Aux Ecoutes du Monte, thì hải cảng Vinh (Nghệ An), là yết hầu của đường mòn HCM, vì gần như mọi thứ đều xuất phát ở đây, để xâm nhập vào Nam. Cũng từ đây, đường được phân làm ba nhánh qua Lào, để tránh thiệt hại vì sự oanh tạc của máy bay Mỹ. Riêng tổng hành dinh của Ðoàn 559A, thì đóng rải rác trong khu tam giác các thị trấn Napé, Kamkeut, Kanmon... nằm dọc theo con sông Nam Pao của Lào. Ðây là một quân chủng đặc biệt của cọng sản Bắc Việt, gồm công binh, vận tải, trách nhiệm bảo trì, sửa chữa con đường, đồng thời phân phối quản trị đoàn dân công, xe tải chuyển vận bộ đội, vũ khí, tiếp liệu từ bắc vào chiến trường miền Nam.

Tại ngã ba Khâm Muôn, giao điểm của hai nhánh Quyết Thắng 20 và Tân Kỳ, đường mòn HCM, đi vào khu rừng già Hạ Lào, cặp kè với con sông Nam Cà Dinh, chạy tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Từ đây đường mòn đổi tên thành Trường Sơn, sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, để tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon) nằm trên quốc lộ 9. Ðây cũng là phân nhánh đầu tiên của đường mòn Trường Sơn, xâm nhập lãnh thổ VNCH, để tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng Vei, Cà Lu... trong tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đường mòn vẫn tiếp tục chạy trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m), một địa danh nổi tiếng, trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960 -1975), được một ký giả ngoại quốc, chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn xác bộ đội Bắc Việt, bị banh thây bỏ lại tại chiến trường, vì bom đạn phi pháo, nên đã đặt là Hambuger Hill. Tại đây, đường lại được phân nhánh tới các thung lũng A Lưới, Tà Bạt và A Shau. Ðây là bàn đạp mà Hà Nội tập trung bộ đội, để tấn công Thừa Thiên và Ðà Nẳng. Sau khi vượt qua cao nguyên Boloven gần ngã ba biên giới Việt-Lào-Miên, đường mòn lại phân thành hai nhánh khác chạy vào lãnh thổ VNCH, một nhánh phát xuất từ Savarane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum... trước khi ngang qua các trại Lực Lượng Ðặc Biệt Benhet, Dakto... Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku, ngang qua Trại LLÐB Ðức Cơ, Pleime. Nằm giữa hai nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào, là mật khu 609 của Bắc Việt. Kể từ đây, đường mòn Trường Sơn đổi thành đường mòn Sihanouk, với nhiều mật khu như 702, 701, 740, 203, 351, 350 và 400. Trên đất Miên, đường mòn có một nhánh rẽ vào Phước Long và phần cuối cùng chạy xuống tận hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Miên. Chính tại đây, Bắc Việt nhận trực tiếp hàng hóa viện trợ của Nga, Tàu và Ðông Âu, tới năm 1970 mới chấm dứt, khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ. Nhờ đó Hoa Kỳ và QLVNCH mới được phép hành quân sang đất Miên theo lời yêu câu của chính phủ mới, nên mới tiêu diệt gần như tất cả các mật khu của Bắc Việt tại đây, qua các cuộc hành quân Toàn Thắng và Cửu Long.

Tóm lại suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, ngoài số nạn nhân chết bởi bom đạn, giao tranh, phần lớn bộ đội, cán binh cọng sản miền bắc, được ghi nhận là ngã gục trên đường Trường Sơn, vì trăm ngàn nỗi gian lao cực nhọc và bệnh tật, đó là chưa kể tới chết khi đụng trận, bị bom đạn oanh tạc, mìn bẫy... Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh, được vùi lấp vội vàng, trên con đường dài heo hút, chỉ một thời gian ngắn, đã biến thành phân mục, bón xanh thêm cây lá rừng hoang, như Trần Xuân Lợi, một bộ đội vượt tuyến đã viết:

"Những hồi mưa ngớt

Tựa nghĩ gốc cây

Nhìn rừng không nói

Nhìn mây chẳng thấy

Chỉ có núi đèo

Kế nhau nối tiếp

Oại là khủng khiếp

Cho cảnh Trường Sơn..."

Hay: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về đất, sông núi gầm vang khúc độc hành - Quang Dũng“. Tất cả là sự thật, mà Ðại Tá Võ Ðại Tôn, tức nhà thơ Hoàng Phong Linh, trong cuộc Ðông Tiến bất thành, khi trở về VN để giải phóng quê hương sau năm 1975, đã ghi lại:

"Ðỉnh núi cao mây vờn,

đá nghìn năm quên tuổi

ta lạc loài như dã thú không tên

qua Tchépone, Boloven

về Hạ Lào thăm thẳm

Atopeu đường xa muôn dặm

Rừng tây nguyên heo hút trong tim..."

Con đường có rất nhiều đoạn dài, xuyên giữa rừng già bất tận, phi cơ quan sát hay không ảnh cũng bó tay, ngoại trừ sự xâm nhập của các Toán Biệt Kích, thuộc binh chủng LLDB/VNCH.

Ðể bảo vệ con đường chiến lược này, Bắc Việt thành lập Ðoàn 559A, gồm nhiều binh trạm, mỗi nơi có quân số tương đương một trung đoàn tác chiến. Giữa hai khu vực, có các toán giao liên và các kho dã chiến. Vùng nào lo vùng nấy, không ai biết gì tới các khu vực lân cận. Tóm lại, Ðoàn 559A chỉ có trách nhiệm từ vĩ tuy